Cội Rễ

Chương 21

Lứa kafô của Kunta, ghen uất người vì chuyến đi của nó và đoán chắc nó sẽ trở về Jufurê hết sức vênh vang, đã quyết định – tuy không đứa nào nói toạc ra như vậy – là sẽ không thèm tỏ ra quan tâm gì đến nó hoặc đến chuyến du lịch của nó, khi nó trở về. Và chúng đã làm thế, không mảy may nghĩ rằng điều đó làm Kunta khổ tâm biết nhường nào khi về tới làng, thấy các bạn cố tri chẳng những làm như nó không hề đi đâu xa, mà thực tế còn ngừng bặt chuyện trò mỗi lúc nó lại gần nữa, đặc biệt thằng bạn Xitafa thân nhất của nó lại càng lạnh lùng hơn những đứa khác, Kunta choáng váng đến nỗi thậm chí nó hầu như không nghĩ gì đến thằng em sơ sinh mới, Xuoađu, ra đời trong khi nó vắng nhà với Ômôrô.

 

Một buổi trưa, trong khi thả dê ăn cỏ, Kunta, cuối cùng, quyết định bỏ qua thái độ ác ý của các bạn và tìm cách làm lành. Đi lại chỗ những thằng khác đang ngồi ăn trưa tách biệt với nó, Kunta ngồi xuống giữa bọn chúng và đơn giản bắt chuyện luôn, “Giá mà chuyến vừa rồi các cậu cùng đi với tớ”, nó thản nhiên nói, và không chờ bọn kia phản ứng ra sao, bắt đầu kể cho chúng nghe về chuyến đi.

 

Nó kể những ngày đi bộ vất vả như thế nào, các bắp thịt nó đau ra làm sao, kể về nỗi khiếp sợ của nó khi đi qua chỗ bầy sư tử. Và nó tả những làng đã đi qua, cùng những người sống ở đó. Trong khi nó nói, một thằng chồm đứng dậy để tập hợp đàn dê về và khi quay lại – làm như không để ý gì – ngồi xích gần Kunta hơn. Chẳng mấy chốc, bọn kia đứa ầm ừ, đứa “ô! a!” điểm theo lời Kunta và đến đoạn nó tới làng mới của hai ông bác, chúng mới sực nhớ ra là đã đến giờ phải lùa dê về nhà.

 

Sáng hôm sau, trong sân trường, tất cả bọn con trai phải ráng hết sức không để cho arafang ngờ là chúng đang sốt ruột muốn sớm tan học. Cuối cùng, khi cùng bầy dê ra bãi, chúng xúm quanh Kunta và nó bắt đầu kể về các bộ lạc khác nhau cùng những thứ tiếng nó quyện lẫn với nhau ở làng các bác nó. Nó đang nói đến giữa chừng một câu chuyện về những nơi xa xăm mà Jannê và Xalum đã kể lại bên đống lửa trại - những thằng kia say mê đón từng lời từng chữ - thì tiếng sủa dữ dội của một con chó uôlô và tiếng be be khiếp hãi, thất thanh của một con dê phá tan yên tĩnh của cánh đồng.

 

Đứng bật dậy, chúng trông thấy ở rìa bãi cỏ cao một con báo đốm lớn buông rơi một con dê khỏi hàm và đang bổ tới hai con chó uôlô của nó. Bọn trẻ hãy còn đứng đó, bàng hoàng và hốt hoảng quá chưa kịp động đậy, thì một trong hai con chó bị con báo tát văng sang một bên – trong khi con chó kia điên cuồng nhảy lui nhảy tới, con báo lại phục xuống để chuẩn bị vồ, những tiếng gầm gừ dữ tợn của chúng át hẳn tiếng sủa loạn của những con chó khác và tiếng kêu của những con dê khác đang bổ nhào tán loạn về mọi phía.

 

Rồi bọn trẻ tỏa ra, vừa kêu vừa chạy, phần lớn đều cố đưa dê của mình chạy đi. Nhưng Kunta nhắm mắt nhắm mũi lao như tên bắn về phía con dê bị gục ngã của cha nó “Đứng lại, Kunta! Đừng!” Xitafa thét lên, cố cản nó đừng chạy giữa bầy chó và con báo. Xitafa không đuổi kịp nó, nhưng khi con báo trông thấy hai thằng bé gào thét lao tới nó, nó bèn lùi lại mấy bước, rồi quay đầu và chạy trở về rừng, theo sát là bầy chó lồng lộn như hoá dại.

 

Mùi báo hôi nồng nặc và con dê cái bị ngoạm sứt sẹo làm cho Kunta thấy buồn nôn – máu chạy xuống cả cổ bị vặn ngoéo của nó đen sẫm lại, lưỡi nó thè lè ra, mắt nó trợn ngược lên trong đầu và kinh khủng nhất là bụng nó bị phanh ra toang hoác và Kunta có thể thấy trong đó con dê con chưa đẻ còn thoi thóp thở. Gần đó là con chó uôlô thứ nhất đang đau đớn rên với cái mạng sườn bị cào toạc và ráng sức bò về phía Kunta. Nôn ngay ra chỗ mình đứng, Kunta quay đi, xám ngoét, và nhìn vào bộ mặt xót xa của Xitafa.

 

Một cách mơ hồ, qua hàng nước mắt, Kunta cảm thấy một số thằng khác vây quanh nó đăm đăm nhìn con chó bị thương và con dê chết. Rồi tất cả bọn nó từ từ rút lui trừ thằng Xitafa đưa tay quàng lên vai Kunta. Không đứa nào nói gì, nhưng câu hỏi như vương vất trong không khí: nó biết ăn nói làm sao với cha nó đây? Loay hoay một lúc, rồi Kunta cũng thốt nên lời. “Mày có thể trông dê giúp tao được không?” nó hỏi Xitafa, Tao phải mang bộ da này về cho bố tao”.

 

Xitafa đi lại đàng kia, nói với những đứa khác và hai thằng mau chóng vác con chó rên rẩm lên mang đi. Kunta bèn vẫy tay ra hiệu cho Xitafa đi khỏi cùng với những đứa khác. Quỳ xuống bên con dê cái chết, Kunta lấy dao cắt, cứa, rồi lại cắt như nó vẫn thấy cha nó làm, cứ như thế cho đến khi, rốt cuộc, nó đứng lên với bộ da ướt trong tay. Nó nhổ cỏ phủ lên bộ xương con dê cái và cái thai chưa đẻ, rồi cất bước trở về làng. Trước đây, đã có một lần, nó bỏ lãng đàn dê trong khi chăn và nó đã nguyện không bao giờ để có chuyện đó lại xảy ra nữa. Thế nhưng chuyện đó đã lại xảy ra và lần này một con dê cái đã bị giết.

 

Một cách tuyệt vọng, nó mong sao đó chỉ là một cơn ác mộng và giờ đây nó đã thức giấc, song bộ da ướt nhèo vẫn còn đây, trên tay nó. Nó cầu ước được chết, nhưng nó biết mình sẽ làm nhục tổ tiên. Chắc đây là Chúa Ala trừng phạt nó về tội ba hoa, Kunta hổ thẹn nghĩ bụng. Nó dừng lại để quỳ xuống, hướng về phía mặt trời mọc và cầu nguyện tha tội.

 

Khi đứng dậy, nó thấy lứa kafô của nó đã lùa chung tất cả dê về một cụm và chuẩn bị rời bãi chăn, đứa nào đứa nấy nhấc bó củi của mình lên đầu. Một thằng mang con chó bị thương, và hai con khác trong bầy chó bị tập tễnh nặng. Trông thấy Kunta nhìn về phía bọn nó, Xitafa đặt bó củi xuống và cất bước về phía bạn, nhưng Kunta vội xua tay ra hiệu cho nó tiếp tục đi cùng bọn kia.

 

Mỗi bước chân trên con đường dê đi đã mòn nhẵn dường như đưa Kunta lại gần cái kết thúc – kết thúc của tất cả mọi sự trên đời. Ý thức phạm tội, nỗi kinh hoàng và cảm giác tê dại trào dâng khắp người nó thành từng đợt sóng. Nó sẽ bị đuổi đi. Nó sẽ nhớ Binta, nhớ Lamin và già Nyô Bôtô. Thậm chí nó sẽ nhớ cả lớp học của arafang. Nó nghĩ tới bà nội Yaixa quá cố của nó, tới ông nội nó mà nó mang tên, bậc thánh nhân giờ đây bị nhục nhã vì nó, tới các ông bác lữ khách trứ danh của nó đã xây dựng nên một ngôi làng. Nó chợt nhớ ra mình không có lấy một bó củi nào. Nó nghĩ đến con dê cái mà nó nhớ lúc nào cũng nháo nhác và hay nhổng khỏi đàn. Và nó nghĩ đến con dê chưa đẻ. Vậy mà trong khi nghĩ vế tất cả những cái đó, nó lại không thể nghĩ về điều gì khác ngoài cái điều mà nó sợ nghĩ đến nhất: cha nó.

 

Tâm trí nó loạng choạng và nó đứng sững lại như mọc rễ, chằm chằm ngó xuôi con đường phía trước. Đó là Ômôrô đang chạy về phía nó. Chắc chắn không thằng nào dám nói với anh, vậy mà làm sao anh đã biết?

“Con có làm sao không?” bố nó hỏi.

 

Lưỡi Kunta như dinh chặt vào vòm miệng. “Không sao ạ, thưa cha”. Cuối cùng nó nói. Song lúc đó, bàn tay Ômôrô đã sờ soạng khắp bụng Kunta, nhận ra vết máu sũng ướt chiếc áo vạt dài không phải là máu Kunta.

Đứng thẳng người lên, Ômôrô cầm lấy bộ da đặt xuống bãi cỏ. “Ngồi xuống!” anh ra lệnh và Kunta run rẩy làm theo trong khi Ômôrô ngồi xuống trước mặt nó.

“Có một điều mà con cần biết”, Ômôrô nói “Mọi người đều có thể lầm lỗi. Dạo bằng tuổi con, cha cũng để một con sư tử bắt mất một con dê”.

Kéo chiếc áo dài lên, Ômôrô vạch mông trái của mình ra. Cả khoảng chằng chịt sẹo sâu tai tái ở trên đó khiến Kunta choáng người. “Cha đã học được và con cũng phải học Không bao giờ chạy về phía bất kỳ một con thú nguy hiểm nào!”. Cặp mắt anh dõi vào mắt Kunta. “Con có nghe thấy cha nói không?”

“Thưa cha có ạ”, Ômôrô đứng dậy, cầm lấy tấm da và quẳng vào bụi cây đằng xa “Thế đấy, đó là tất cả những gì cần nói”.

Đầu Kunta quay cuồng trong khi nó đi về làng đằng sau Ômôrô. Lớn hơn cả ý thức phạm tội cùng niềm khoan khoái nhẹ nhõm vừa đến, là tình yêu mà lúc này nó cảm thấy đối với cha nó.