Bách Khoa Thư Lịch Sử

Mỹ: Cuộc Di Cư Sang Phía Tây (1776–1845)

MỸ: CUỘC DI CƯ SANG PHÍA TÂY (1776–1845)

Sau khi giành được độc lập, nước Mỹ non trẻ bắt đầu phát triển rất nhanh. Dân nhập cư mới tới tràn về phía Tây và cướp đất của người châu Mỹ bản xứ.

Meriwether Lewis (1774–1809) được Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson ủy nhiệm đi thám hiểm miền Tây.

Đầu thế kỷ XIX, nước Mỹ vẫn còn nhỏ và chịu rất nhiều ảnh hưởng của nền chính trị châu Âu. Trong thời gian diễn ra các cuộc chiến tranh Napoleon, Anh kiểm soát các vùng biển và phong tỏa hầu hết hoạt động đi lại trên biển giữa châu Âu (của Napoleon) và Mỹ. Việc này có lợi cho Mỹ vì Napoleon không thể bảo vệ thuộc địa Louisiana của Pháp. Do người Pháp kiểm soát hoạt động buôn bán trên sông Mississippi, nên người Mỹ tiến hành thỏa thuận với họ. Napoleon quyết định bán thuộc địa Louisiana với giá 15 triệu đô la Mỹ. Có thêm vùng Louisiana, diện tích nước Mỹ tăng lên gấp đôi.

William Clark (1770–1838) đi cùng với Lewis tới bờ biển miền Tây ở Oregon vào năm 1805, trở về vào năm sau (1806) và thông báo những phát hiện của họ.

CHIẾN TRANH NĂM 1812

Việc Anh phong tỏa châu Âu cũng gây bất lợi cho hoạt động buôn bán của Mỹ. Năm 1812, Mỹ tuyên chiến với Anh. Mỹ cố chiếm Canada nhưng bất thành. Họ thắng một số trận thủy chiến ở vùng Ngũ Đại Hồ, nhưng quân Anh đã thiêu rụi Washington, thủ đô mới của Mỹ. Cả hai phe đều không tiến được bao nhiêu và rốt cuộc, vào năm 1814, mệt mỏi vì chiến tranh, hai bên đã ký một hiệp ước trao trả lại các vùng lãnh thổ đã chiếm được trước đó. Anh dỡ bỏ lệnh phong tỏa, các cuộc chiến tranh của Napoleon dần chấm dứt và Mỹ có thể khôi phục hoạt động thương mại và kinh tế.

Daniel Boone (1734–1820) bị một nhóm người da đỏ Shawnee bắt giữ. Ông bị thử thách lòng can đảm bằng việc phải chạy giữa hai hàng các chiến binh dữ tợn tấn công liên tiếp.

NGƯỜI DI CƯ VÀ NGƯỜI ĐỊNH CƯ

Sau khi Mỹ độc lập vào năm 1776, nhiều người lũ lượt kéo tới định cư tại nước này. Họ tới từ mọi miền của châu Âu với hy vọng tìm kiếm một cuộc sống mới ở “xứ sở tự do”. Dân số Mỹ có khoảng bốn triệu người vào năm 1803, nhưng đến năm 1861 đã tăng lên 31 triệu người. Những người di cư đầu tiên định cư ở các bang vùng Đông Bắc, nhưng khi số lượng người di cư ngày càng đông, họ đã đi xuống phía Nam và sang phía Tây.

Nước Mỹ giống như một đế quốc mới, giàu tài nguyên và đất đai. Các vùng trước đây là thuộc địa ở miền Đông, vẫn được gọi là “vùng sâu vùng xa”, bỗng chốc trở thành “vùng biên cương mới”. Đến năm 1820, “vùng biên cương mới” này đã mở rộng qua sông Mississippi. Tuy vậy, đối với người bản xứ ở Mỹ, cuộc sống của họ trở nên khó khăn khi Mỹ mở rộng lãnh thổ, và người định cư càng giàu có và tự do hơn thì người bản xứ càng nghèo đói và mất tự do hơn.

Chuyến thám hiểm của Lewis và Clark bắt đầu từ St Louis vào năm 1804 và họ đã phải trải qua mùa đông ở Dakota trước khi vượt dãy núi Rocky tới Oregon vào năm 1805. Một phụ nữ thuộc bộ lạc Shoshone tên là Sacajawea đã đi cùng đoàn thám hiểm và giúp đoàn giao tiếp với những người bản xứ.
Người định cư trên đường mòn tới miền Tây nước Mỹ dựng trại ngủ qua đêm. Họ đến từ khắp mọi miền châu Âu và hy vọng gây dựng được một cuộc sống mới ở nơi mà họ gọi là “xứ sở tự do”.

ĐƯỜNG MÒN NƯỚC MẮT

Năm 1787, chính phủ Mỹ hứa hẹn với người bản xứ rằng các vùng đất truyền thống của họ sẽ chỉ được dùng vào việc định cư người da trắng khi có sự đồng ý của họ. Nhưng bốn năm sau, Tổng thống George Washington đã thay đổi cam kết và các bộ lạc bản xứ ở hết vùng này đến vùng khác bị buộc phải rời bỏ quê hương. Người Delaware bị buộc phải rời bỏ quê hương vào những năm 1760. Trong những năm 1830, người Seminole bị đuổi khỏi Florida và 50.000 người Cherokee bị đuổi khỏi Georgia. Khoảng 400.000 người bản xứ châu Mỹ buộc phải dời về miền Tây, và nhiều người đã bỏ mạng trên “Đường mòn Nước mắt” này. Sau khi Mỹ mua vùng đất Louisiana vào năm 1803, diện tích nước Mỹ đã tăng gấp đôi, và binh lính cùng những người định cư bắt đầu vượt sông Mississippi. Nhiều người bản xứ bị ép buộc định cư ở Oklahoma, và đến năm 1820, họ không còn được hoan nghênh ở vùng phía đông sông Mississippi nữa. Mặc dù Oklahoma chính thức được quy định là “Lãnh thổ của người Da đỏ” vào những năm 1830, từ năm 1854 diện tích dành cho người da đỏ dần dần bị thu hẹp.

Andrew Jackson (1767–1845) là tổng thống Mỹ từ năm 1829 đến năm 1837. Ông đã chiến đấu trong cuộc chiến tranh năm 1812 và chiếm được Florida vào năm 1818 trong cuộc chiến chống lại người Seminole. Ông tin tưởng vào việc mở mang biên giới phía Tây, khuyến khích và hỗ trợ người định cư chống lại người bản xứ.

Các tuyến đường mòn di cư mới được mở ra, như đường Cumberland từ Baltimore tới St Louis. Các nhà thám hiểm như Lewis, Clark đi về hướng Tây tới Thái Bình Dương, mở ra các vùng đất mới cho người định cư. Quân đội xây dựng các pháo đài để bảo vệ họ, và chính phủ Mỹ thông qua các đạo luật mới ủng hộ quyền sở hữu đất của người định cư. Cuộc di cư ồ ạt về miền Tây bắt đầu với lực lượng chủ đạo là những người mới nhập cư, được thúc đẩy bởi hoạt động buôn bán và chính sách của chính phủ Mỹ.


CÁC MỐC THỜI GIAN CHÍNH

1783 Anh rút khỏi 13 thuộc địa

1803 Mỹ mua vùng Louisiana của Pháp

1806 Lewis và Clark đi tới tận bờ biển Thái Bình Dương

1812-1814 Cuộc chiến tranh năm 1812 chống lại Anh

1819 Tây Ban Nha trao vùng Florida cho Mỹ

1820 “Vùng biên cương mới” của người định cư tiến tới sông Mississippi

1830 Đạo luật Di dời người Da đỏ cho phép tịch thu hợp pháp đất đai của họ

1830 Thủ lĩnh Black Hawk (Diều hâu Đen) lãnh đạo cuộc chiến chống người định cư

1838-1839 Người Cherokee theo “Đường mòn Nước mắt” di cư tới Oklahoma

1845 Mỹ sáp nhập vùng Texas

TRẬN CHIẾN HỒ ERIE: Trận Hồ Erie diễn ra giữa quân Anh và lực lượng hải quân quy mô nhỏ của Mỹ vào tháng 9 năm 1813. Người Mỹ đã giành chiến thắng và chiếm được sáu tàu của Anh. Trong trận này, tư lệnh hải quân Mỹ Oliver Perry (1785–1819) đã đi thuyền để sang một con tàu khác sau khi tàu của ông bị chìm. Sau đó ông tuyên bố: “Chúng ta đã chạm trán quân địch và chúng đã nằm trong tay chúng ta”.