A Mạch Tòng Quân

Chương 116: Đại chiến (thượng)

Vì năm nay lập xuân(1) rơi vào năm

sau, cho nên mùa xuân rất lạnh, đợi đến khi thời tiết chuyển sang ấm áp

thì đã đến giữa tháng hai. A Mạch đã trang bị xong sàng nỏ cho cánh quân mới, binh lính luyện tập đã dần tiến đến giai đoạn đạt chuẩn. Phần lớn

kỵ binh trong cánh quân mới cũng đều đề nghị A Mạch thay bằng một loại

vũ khí mới tương tự như lang nha bổng, loại vũ khi này càng dùng càng

cảm thấy đơn giản, thuận tay, lại có thể tự mình gia công thay đổi, ví

dụ như có thể tăng thêm đinh sắt ở phía đầu mút và bẻ cong lại, một bổng nện xuống khi thuận thế thu về có thể giật ngã đối phương từ trên ngựa

xuống, thật là tuyệt diệu không thể tả xiết!

Việc huấn luyện cánh quân mới tiến

triển vô cùng thuận lợi, các doanh trại khác thao luyện cũng rất khắc

khổ, tình hình trong thành rất tốt, chỉ ngoại trừ Lý Thiếu Hướng vì

chuyện lương thảo mà phát hỏa, còn lại chư tướng quân Giang Bắc đều quản lý công việc của mình gọn gàng trật tự.

Cùng lúc đó, đại quân Bắc Mạc yên ổn

trú quân tại thành Võ An, bộ tộc Thường gia cả già lẫn trẻ gồm ba gã đàn ông đã trải qua một năm ở thành Võ An. Lương thảo của Thanh Châu so với ở đây thì chẳng khác gì như lấy trứng chọi đá, bởi lương thảo của đại

quân Bắc Mạc ở thành Võ An rất dư dả, đại nguyên soái chinh nam Trần

Khởi chẳng những cấp lương thảo đầy đủ mà còn đặc biệt phái Tuyên uy

tướng quân Phó Duyệt áp tải lương thảo, vật tư đến đây.

Nói đến Phó Duyệt, các chư tướng quân Giang Bắc đều cảm thấy có chút xa lạ, Vương Thất – quản lý đội thám báo liền giải thích: “Chính là ca ca của Phó Hướng, kẻ bị chúng ta bắn chết trong chiến dịch tại Dã Lang Câu vào năm Thịnh Nguyên thứ hai đó.”

Chư tướng quân Giang Bắc không khỏi

đồng thanh “À” lên một tiếng, âm đuôi kéo ra rất dài, tất cả đều cùng

một biểu cảm. Tiết Vũ vốn ở lại thành Thanh Châu, đối với trận chiến tại Dã Lang Câu cũng không biết nhiều lắm, liền hỏi: “Chính là kẻ cùng với

Thường Ngọc Thanh ở Bắc Mạc xưng là ‘Tướng môn song tú’ Phó Hướng?”

Mạc Hải khinh thường cười nhạo một

tiếng: “Song tú ấy à, thích việc lớn hám công to, khinh xuất liều lĩnh,

chỉ vừa mới giao chiến cùng quân Giang Bắc chúng ta đã bị bắn chết.”

A Mạch cân nhắc một lát liền hỏi

Vương Thất: “Vì sao Trần Khởi lại phái người này đến đây? Chỉ áp giải

lương thảo hay là ở lại Võ An? Về phương diện này có tin tức gì không?”

Vương Thất lắc đầu: “Không có tin tức gì, chỉ biết lương thảo do Phó Duyệt áp tải đến.”

Từ Tĩnh vẫn im lặng đột nhiên cười

nói: “Nếu là vì tranh chấp của các phe cánh trong quân Bắc Mạc, thì xem

ra đây là Trần Khởi muốn mượn sức Phó gia và Thôi gia để chống đỡ thôi.”

A Mạch yên lặng không nói gì, như thể có điều đang phải cân nhắc.

Trương Sinh nhìn Từ Tĩnh, lại nhìn A Mạch, hỏi: “Đại nhân, ngài muốn đi cướp lương thảo sao?”

A Mạch nghe vậy thì khôi phục lại vẻ

bình tĩnh, liếc mắt thấy Lý Thiếu Hướng đang dùng đôi mắt chờ mong nhìn

nàng, liền lắc đầu nói với Trương Sinh: “Không thể được, kỵ binh của

chúng ta lực lượng quá mỏng, thát tử lại sớm có phòng bị, đi chỉ mất

công, lại khiến kỵ binh bị tổn thất mà thôi.”

Từ Tĩnh cũng gật đầu nói: “Không sai.”

Trong thành Võ An, mấy người của Thường gia đang thương nghị việc Phó Duyệt vận tải lương thảo đến đây.

Thường Tu An đối việc này vô cùng tức giận nói: “Thường gia ta lãnh binh đông tiến, còn phái Phó gia tới làm

gì, rõ ràng là cố ý muốn quấy rối đây mà, nếu không phải vì tên Phó

Hướng, chúng ta đâu chịu thất bại ở Dã Lang Câu! Hơn nữa Phó gia thì có

bản lĩnh gì, không phải chỉ dựa vào việc là thân thích với Thái Hậu hay

sao?”

“Tam thúc!” Thường Ngọc Tông ngắt lời Thường Tu An, quay lại nhìn đường huynh Thường Ngọc Thanh, hỏi: “Thất

ca, hay Trần Khởi ngại tốc độ đông tiến của chúng ta quá chậm? Chúng ta

một đường đánh từ Dự Châu đánh tới Thanh Châu, tất cả cũng hạ được hơn

mười thành trì, tuy là bị vướng chân ở Thanh Châu, nhưng cũng chẳng hề

rảnh rỗ, sao anh ta lại như thế?”

Không giận dữ như Thường Tu An hay

nghi hoặc như Thường Ngọc Tông, sắc mặt của Thường Ngọc Thanh vẫn bình

thản, khóe miệng còn dẫn theo một nét cười mỉa mai, nghe vậy nói:

“Nguyên nhân là vì Thường gia chúng ta lập được quá nhiều quân công, nên anh ta mới kêu Phó Duyệt đến đây để chia bớt phần của chén canh này,

vừa đoạt quân công của Thường gia ta, lại cho Phó gia thể diện, một công đôi việc như vậy, cớ gì mà lại không làm!”

Thường Tu An tức giận nói: “Chờ Phó Duyệt đến đây, chúng ta liền cô lập hắn ta, xem hắn làm thế nào phát động được binh mã!”

Thường Ngọc Thanh cũng cười, nói:

“Nếu tam thúc làm thế lại càng đúng tâm ý của Trần Khởi, không những

chúng ta sẽ đắc tội với Phó gia mà còn khiến cho Hoàng Thượng tức giận,

nếu Hoàng Thượng có khúc mắc, chúng ta dù có lập nhiều quân công hơn nữa thì cũng có ích gì?”

Thường Ngọc Tông nhịn không được hỏi: “Vậy phải làm sao?”

Thường Ngọc Thanh khẽ cười nói: “Một

khi Phó Duyệt đến đây thì phải dùng anh ta, hơn nữa, không những dùng mà còn phải trọng dụng!”

Bước vào ba tháng, lượng thóc lúa

trong kho lương thảo của Thanh Châu càng ngày càng ít, nhưng thật ngoài ý muốn, Lý Thiếu Hướng lại vô cùng bình tĩnh. A Mạch càng ngày càng trở

nên trầm mặc, theo tin tức thám báo từ Võ An đưa về, đại quân Thường

Ngọc Thanh đã có hành động, một trận chiến không thể tránh khỏi cuối

cùng cũng đã tới.

Thử thách, đây chính là thử thách đối với cánh quân mới, cũng là thử thách đối với sự tồn vong sinh tử của quân Giang Bắc.

Ngày mười hai tháng ba, đại quân Bắc Mạc ra khỏi thành Võ An tiến thẳng đến uy hiếp Thanh Châu.

Trương Sinh, thống lĩnh kỵ binh quân

Giang Bắc, nhân cơ hội này mang hai ngàn kỵ binh đánh lén đại doanh

lương thảo của Bắc Mạc, nào ngờ Thường Ngọc Thanh sớm đã có phòng bị,

lưu lại cho Thường Tu An ba ngàn kỵ binh và một ngàn bộ binh bảo vệ

lương thảo. Quân của Trương Sinh rơi vào tình thế bất lợi nên tổn thất

lớn, liền dẫn kỵ binh quân Giang Bắc rút lui về phía nam thành Thanh

Châu.

Ngày mười bảy tháng ba, thiết kỵ Bắc

Mạc đến phía tây thành Thanh Châu. Trong thành Thanh Châu không còn đủ

lương thảo, nên năm vạn đại quân Giang Bắc đã bỏ thành Thanh Châu, rút

lui về khe núi Phi Long theo hướng đông. Cùng với đó, dân chúng trong

thành sợ quân Bắc Mạc tàn sát mà biến thành loạn dân, mang theo lương

thực và đồ quý giá bỏ chạy tứ phía, cửa thành Thanh Châu mở rộng, trong thành là một cảnh hỗn loạn.

Thường Ngọc Tông đề nghị đưa quân Bắc Mạc vào thành bình định loạn dân, nhân cơ hội chiếm cứ thành Thanh

Châu. Thường Ngọc Thanh chỉ cười lạnh, chẳng những không tiến vào thành

Thanh Châu, mà ngược lại, vượt qua thành Thanh Châu, sau đó rút ra ba

ngàn thiết kỵ giao cho tiên phong Phó Duyệt chỉ huy, xuyên qua khe núi

Phi Long cắt đứt đường lui của quân Giang Bắc, còn đại quân chủ lực

từng bước áp sát theo quân Giang Bắc, khiến toàn bộ đại quân Giang Bắc

không kịp lui vào trong khe núi Phi Long mà bị chặn lại ở vùng đất bằng

bẳng ở khe núi Khẩu Bắc

Sau gần nửa năm xa cách, A Mạch và Thường Ngọc Thanh cuối cùng lại không thể tránh khỏi thế đối địch.

Không giống với địa thế trật hẹp

trong khe núi Phi Long, khe núi Khẩu Bắc chính là một phần chân núi Thái Hành kéo dài về hướng tây, hình thành nên một vùng đất bằng phẳng, đúng là một địa hình vô cùng thích hợp cho kỵ binh tác chiến. Kỵ binh quân

Giang Bắc yểm hộ cho bộ binh lui về hướng đông, thấy đại quân Bắc Mạc

đuổi tới nơi vội vàng bày trận nghênh địch. Nhưng số lượng kỵ binh quân

Giang Bắc vốn không nhiều lắm, Trương Sinh lại mang một nửa đi tập kích

đại doanh lương thảo của Bắc Mạc, cho nên ở đây cũng chỉ còn lại hai

ngàn, so với con số hai vạn thiết kỵ Bắc Mạc thật có chút đáng thương.

Hai ngàn đối đầu với hai vạn, lại ở vùng đất bằng phẳng, thắng bại cơ hồ đã rõ.

Kỵ binh Bắc Mạc đều đã có chút không

thể kiềm chế được, song đại tướng quân Thường Ngọc Thanh lại vẫn như

trước không hạ lệnh xung phong. Anh ta vốn luôn tìm cơ hội được sớm cùng quân Giang Bắc dã chiến, hiện giờ khi đã thật sự chặn được quân Giang

Bắc ở nơi này, anh ta lại bắt đầu cảm thấy có chút do dự. Thường Ngọc

Thanh rất hiểu A Mạch, nàng không thể là người dễ dàng khoanh tay chịu

chết. Quả nhiên, kỵ binh quân Giang Bắc sau khi bày trận liền rất nhanh

rút lui, lộ ra ba trăm cỗ chiến xa ẩn nấp ở phía sau.

Thường Ngọc Thanh rốt cục mỉm cười,

thì ra là muốn dùng xa trận chống lại kỵ binh. Dựa vào chiến xa vững

chắc để cản trở kỵ binh đánh sâu vào trận địa, duy trì hoàn chỉnh mặt

trận phe mình. Đồng thời, vì chiến xa phân bố dày đặc trong trận, không

gian trong khe núi rất chật hẹp, khúc khuỷu, kỵ binh rất khó có thể xen

kẽ thần tốc, hành động chắc chắn sẽ bị hạn chế rất lớn… Thế nhưng, tuy

xa trận có một chút ưu thế đối với kỵ binh, lại khó có thể chống lại sự

tấn công linh hoạt của bộ binh, đồng thời lại có một nhược điểm trí

mạng, đó là e sợ hỏa công, lại thêm xa trận lấy việc phòng thủ là chính, về cơ bản rất bất lợi cho việc chủ động xuất kích cũng như tấn công tác chiến.

A Mạch, ngươi khiến cho ta có chút

thất vọng rồi. Thường Ngọc Thanh khẽ cong khóe môi cười, dặn dò Thường

Ngọc Tông: “Chuẩn bị hỏa tiễn và cỏ khô để đốt xe.”

Thường Ngọc Tông cũng là người thông

thạo binh thư, tất nhiên biết Thường Ngọc Thanh muốn dùng hỏa công để

đối phó xa trận, liền vội vàng sai người bố trí hỏa tiễn cùng cỏ khô.

Phía bên kia, mấy trăm cỗ chiến xa của quân Giang Bắc nhanh chóng áp sát vào mô hình trận địa, hơn nữa, dàn trận cũng chẳng theo đội hình thông

thường, như mô hình trận địa hình bán nguyệt, hình vuông phân bố theo

chiều dọc, mà là trước sau lần lượt thay đổi xếp thành mấy hàng, sau đó

tiến rất nhanh về phía quân Bắc Mạc.

Quân Bắc Mạc nhìn mà bất giác có chút hồ đồ, xa trận đều lấy phòng ngự làm chủ, chưa bao giờ thấy chiến xa

lại được đẩy như điên lên phía trước như thế này! Quân Giang Bắc muốn

làm gì vậy? Mắt thấy khoảng cách giữa hai quân càng lúc càng gần, Thường Ngọc Thanh mặc dù nhất thời không hiểu A Mạch rốt cuộc đang giở trò bịp bợm gì, song cũng không thể để chiến xa của địch quân đánh sâu vào trận địa của quân mình, liền bình tĩnh hạ lệnh cho kỵ binh phía trước tấn

công quân Giang Bắc.

Mà chiến xa của quân Giang Bắc khi

vọt tới chỉ còn cách kỵ binh quân Bắc Mạc khoảng hai trăm trượng liền

đột ngột dừng lại, những tấm chăn thô phủ trên chiến xa rốt cục bị hất

ra, để lộ những cỗ sàng nỏ được cố định bên trên… Tầm bắn của cung tên

không thể so với sàng nỏ, loại vũ khí này do vài binh lính kéo trục cơ

quan mà bắn nỏ, tầm bắn có thể đạt tới ba trăm bước. Thiết kỵ Bắc Mạc

vừa mới xung phong, tên nỏ của quân Giang Bắc đã xé gió bay tới.

Dùng gỗ làm thân, đuôi gắn lông vũ,

nếu gọi là tên, chi bằng gọi là ngọn thương gắn lông vũ còn chính xác

hơn, hầu như mỗi một ngọn thương rơi xuống đều khiến cho một kỵ binh cả

người lẫn ngựa đều ngã lăn trên mặt đất, thậm chí có ngọn thương còn đâm xuyên qua cả mấy kỵ binh. Đại quân Bắc Mạc đột nhiên bị tấn công liền

trở nên hồ đồ, đội kỵ binh xung phong này lập tức chịu tổn thất vô cùng

nghiêm trọng, thậm chí ngay cả đại đội kỵ binh chưa xung phong ở phía

sau cũng trong phạm vi công kích của tên nỏ. Mỗi loạt tên nỏ hạ xuống,

thì lại có một loạt thiết kỵ Bắc Mạc ngã nhào, trận địa kỵ binh trở

thành tấm bia ngắm thật tốt cho cánh quân mới của quân Giang Bắc.

Lúc này, ngàn vạn lần không còn cách

để lùi về phía sau. Thường Ngọc Thanh lấy lại phản ứng, lạnh giọng hạ

lệnh cho cánh trái đánh sâu vào trận địa cánh phải của địch quân, chư

quân còn lại thì tiếp tục đánh sâu vào trận địa của quân Giang Bắc.

Thường Ngọc Thanh suy nghĩ rất rõ

ràng, sàng nỏ của quân Giang Bắc tuy lợi hại, cùng lắm cũng chỉ có ba

trăm cái, chỉ cần có thể chạy vọt vào trong trận địa của quân Giang Bắc, đại quân Bắc Mạc liền xoay chuyển thế cục. Mà kỵ binh khi tấn công vào

trận địa của bộ binh, nhằm vào cánh phải của đối phương là có lợi nhất.

Bởi vì thế trận trường thương mặc dù có thể khắc chế kỵ binh, nhưng trận địa biến hóa không linh hoạt, nếu kỵ binh đối phương đột nhiên thay đổi phương hướng tấn công, tốc độ đối phương sử dụng thuẫn và binh khí cũng chậm chạp lại. Cho nên, trong rất nhiều hướng trận của kỵ binh, quan

trọng nhất chính là đối diện với tấm thuẫn.

Mà mọi người đều biết, cách dùng đao

thuẫn thông thường đều là tay trái cầm thuẫn, tay phải cầm đao. Phòng

ngự cánh trái vì vậy rất thuận tiện, chỉ cần nhẹ nhàng di động cánh tay

trái là có thể hướng tấm thuẫn về phía kỵ binh, che chắn cho bản thân.

Nhưng nếu đối phương đánh sâu vào cánh phải, đao thuẫn thế nào cũng

không thể đổi chỗ cho nhau được, một khi đã như vậy, đao thuẫn sẽ không

thể bảo vệ mình mà phơi bày phía sau lưng cho đối phương, một khi trong

tay đối phương còn dư thừa kỵ binh, hậu quả thật không dám tưởng tượng.

Không thể không nói, là một tướng

lãnh kỵ binh, Thường Ngọc Thanh chỉ huy vô cùng xuất sắc, đáng tiếc, mọi chuyện trên đời thường hay thay đổi. Chiến xa quân Giang Bắc sau khi

bắn ra một loạt tên nỏ cuối cùng, những binh lính điều khiển xe lập tức

đẩy xe rút sang hai cánh. Hắc Diện mọi ngày huấn luyện quân hà khắc rốt

cục cũng thấy được hiệu quả, những cỗ xe được đẩy đi rất nhanh, chỉ

trong chớp mắt đã dùng xe bày thành trận địa bảo vệ binh lính ở hai

cánh, tiếp tục bắn tên nỏ. Đồng thời, kỵ binh quân Giang Bắc vẫn chờ ở

phía sau trận liền phóng ngựa vọt ra.

Hai cánh là sàng nỏ bắn tên dày đặc,

phủ đầu là lang nha bổng giáng xuống bốn bề, thiết kỵ Bắc Mạc chưa bao

giờ gặp phải kiểu tấn công như thế này, đội hình nhanh chóng rối loạn.

Nhưng thiết kỵ Bắc Mạc có thể xưng bá thiên hạ, chắc chắn phải có chỗ

hơn người, hơn nữa, kỵ binh quân Giang Bắc mặc dù dũng mãnh lại cũng

không ham chiến, chỉ đột phá vào trong trận địa của kỵ binh Bắc Mạc một

phen rồi ngay lập tức rút đi, cho nên, kỵ binh Bắc Mạc mặc dù tổn thất

không ít, lại vẫn vọt được tới trước trận địa của bộ binh quân Giang

Bắc.

Nhưng, bọn họ cũng rất nhanh liền

phát hiện ra rằng phe mình tuy đã vọt tới trận địa của bộ binh quân

Giang Bắc, lại bị chiến xa ngăn cản.

Không biết từ khi nào thì chiến xa

của quân Giang Bắc lại từ hai cánh đẩy trở lại, những tấm bình phong vốn vẫn đặt ở càng xe đã được mở ra, dựng ở một bên bánh xe thành một chiếc hộp lớn, mấy trăm cỗ chiến xa có thể sóng vai nối liền nhau, xếp thành

một trận địa vòng tròn ngăn kỵ binh Bắc Mạc ở bên ngoài.

Hàng trăm mũi tên nỏ trong xa trận đồng loạt bắn ra, kỵ binh Bắc Mạc lại trở thành bia ngắm.

——————————

Chú thích:

1- Tiết lập xuân: Tiết Lập xuân là

một khái niệm trong công tác lập lịch của các nước phương Đông chịu ảnh

hưởng của nền văn hóa Trung Hoa cổ đại. Nó là một trong số hai mươi tư

tiết khí của các lịch Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Theo

quy ước, tiết lập xuân là khoảng thời gian bắt đầu từ khoảng ngày 4 hay 5 tháng 2 (dương lịch) khi kết thúc tiết đại hàn và kết thúc vào khoảng

ngày 18 hay 19 tháng 2 trong lịch Gregory theo các múi giờ Đông Á khi

tiết vũ thủy bắt đầu.

Ngày lập xuân được coi là ngày bắt

đầu mùa xuân ở Việt Nam, Trung Quốc và một số nước khác gần khu vực xích đạo ở Bắc bán cầu Trái Đất.

Hàng năm chỉ có 1 tiết Lập xuân kéo

dài khoảng 2 tuần là hết. Tiết Lập xuân thường vào cuối năm cũ đến đầu

năm mới (năm âm lịch).