Một Phát Một Mạng

Chương 10

Reacher thức giấc lúc sáu giờ. Tắm bằng nước lạnh, khá lâu, vì căn phòng nóng. Nhưng áo ông đã khô. Nó cứng như bìa, và vẫn còn giữ đúng cỡ. Ở đây không phục vụ bữa sáng tận phòng. Ông ra ngoài ăn sáng. Ngoài đường đầy những xe tải chở đá cuội, chở đất lấp đường, trộn bê tông, bón cho cái mồm háu trên đói của các công trường. Ông tránh chúng và đi về hướng Nam nhắm bến cảng. Đi qua ranh giới của khu thượng lưu. Ông tìm thấy một tiệm ăn bình dân dành cho người lao động. Ông uống cà phê và ăn trứng. Ông ngồi ở cửa sổ nhìn ra, tìm những kẻ rình mò bâng quơ trước các cửa nhà hay những kẻ ngồi trong xe đậu bên đường. Bởi vì nếu đêm qua ông bị theo dõi thì bây giờ ông bị theo dõi tiếp là điều hợp lý. Không trực tiếp. Thế nên ông phải cảnh giác. Nhưng ông không thấy ai cả.

Sau đó ông đi bộ suốt đường số Một, về hướng Bắc. Mặt trời lên cao phía tay phải. Ông dùng cửa kính của các cửa hàng như những tấm gương để quan sát phía sau lưng. Nhiều người đi cùng hướng với ông nhưng không có ai theo dõi ông. Ông đoán dù cho kẻ đó là ai thì hắn cũng sẽ chờ ông ở quảng trường, sẵn sàng xác nhận điều mà hắn đã chờ đợi: Nhân chứng đến văn phòng của luật sư.

Vòi phun nước vẫn đang chảy. Cái hồ gần đầy một nửa. Những vòng hoa tưởng niệm vẫn còn ở đó, xếp hàng gọn gàng, thêm một ngày nữa, phai nhạt đi một ít, héo rũ thêm một chút. Ông nghĩ chúng sẽ được để ở đó trên dưới một tuần. Cho tới sau tang lễ cuối cùng. Rồi chúng sẽ được thận trọng mang đi, có lẽ là vào lúc nửa đêm, và thành phố sẽ tiếp tục đời sống của nó.

Ông ngồi trên khối đá của NBC một lúc, quay lưng lại tòa nhà cao tầng, như một kẻ thừa thời gian vì đến sớm. Mà ông đến sớm thật. Chỉ mới bảy giờ bốn mươi lăm. Có những người khác cùng trong tình cảnh này. Họ đứng loanh quanh, một mình hay thành từng nhóm hai hay ba người, hút những điếu thuốc cuối cùng, đọc báo buổi sáng, rùng mình ớn lạnh trước công việc nhàm chán hằng ngày. Trước tiên Reacher nhìn những kẻ đứng một mình đọc báo. Đó là cách ngụy trang để theo dõi khá cổ điển. Mặc dù theo quan điểm của ông giờ đây nó cần thay thế bằng lốt ngụy trang mới: người bị đuổi ra ngoài trời hút thuốc. Những kẻ đứng hút thuốc gần lối vào là những người tàng hình mới. Hay những kẻ đang gọi di động. Bạn có thể đứng đến già với chiếc Nokia kề bên tai mà không ai thắc mắc gì cả.

Sau cùng, ông chú ý một gã vừa hút thuốc vừa gọi di động. Gã là một người thấp lùn khoảng sáu mươi tuổi. Có lẽ hơn. Một người tàn phế. Lúc nào trông gã cũng như căng người ra cố đứng thẳng. Có lẽ do một chấn thương cột sống từ ngày xưa. Hay những dẻ xương sườn gãy bị nắn lại cẩu thả từ ngày xưa. Dù thế nào đi nữa, nó làm cho gã trông không thoải mái và cáu kỉnh. Gã không phải là kiểu người khoái trò chuyện dông dài. Nhưng gã đứng đó, ôm điện thoại, nói chuyện vu vơ mãi. Gã có mái tóc mỏng màu xám, mới cắt nhưng không hợp thời trang chút nào. Gã khoác một chiếc bành tô được cắt may đắt tiền, nhưng không phải ở Mỹ. Nó rộng vai và nặng nề, quá dày so với thời tiết ở đây. Có lẽ ở Ba Lan. Hay Hungary. Chắc chắn là ở vùng Đông Âu. Gã có nước da trắng và màu mắt đen. Đôi mắt không hề liếc về phía Reacher, dù chỉ một lần.

Reacher xem đồng hồ. Bảy giờ năm mươi lăm. Ông trượt khỏi tấm đá sáng bóng và bước vào khách sảnh của tòa nhà.

Grigor Linsky thôi không giả vờ nữa và bấm điện thoại gọi thật sự.

Gã nói, “Hắn đang ở đây. Vừa đi lên.”

The Zec hỏi, “Hắn có thấy mày không?”

“Có, em chắc chắn.”

“Vậy thì đừng để hắn thấy lần nào nữa. Giờ thì mày ẩn mặt trong bóng tối thôi.”

Reacher thấy Helen Rodin đã ngồi ở bàn. Cô trông đã yên vị, như thể cô đã ở đó từ lâu rồi. Cô vẫn mặc chiếc vest đen lúc trước, nhưng áo trong thì khác. Nó là một chiếc áo khoét cổ tròn bình thường, không bó. Nó màu xanh như men sứ và trùng với màu mắt cô. Tóc cô được cột ra sau thành một chiếc đuôi ngựa. Bàn giấy đầy những cuốn sách luật. Có cuốn ngửa lên, có cuốn úp xuống. Chúng đều để mở. Cô có chừng tám trang ghi chép dở dang, trên một cuốn vở màu vàng. Những trích dẫn, ghi chép về vụ án, những phán quyết, những tiền lệ.

Cô nói, “James Barr đã tỉnh lại. Rosemary gọi tôi lúc năm giờ sáng nay.”

“Hắn đã nói gì chưa?”

“Chỉ nói với bác sĩ. Họ chưa để cho ai đến gần anh ta. Ngay cả Rosemary.”

“Còn đám cảnh sát thì sao?”

“Họ đang chờ. Nhưng tôi sẽ đến đó trước. Tôi không thể để anh ta nói chuyện với cảnh sát mà không có người đại diện.”

“Hắn nói gì với các bác sĩ?”

“Hắn nói hắn không biết tại sao mình lại ở đó. Rằng hắn không nhớ điều gì về ngày thứ Sáu. Các bác sĩ nói họ đã dự liệu trước điều này. Chứng mất trí nhớ là một khả năng lớn khi gặp những chấn thương ở đầu, có thể quên tới nhiều ngày trước cú chấn thương, đôi khi nhiều tuần.”

“Điều đó ảnh hưởng gì tới công việc của cô?”

“Đưa đến hai khó khăn rất lớn. Thứ nhất, hắn có thể giả bộ mất trí. Và dù sao, điều đó thật khó mà kiểm tra được. Thế nên tôi đang tìm một chuyên gia để tham khảo ý kiến. Và nếu hắn không giả bộ, thì chúng ta rất kẹt. Nếu bây giờ hắn tỉnh táo, và trước đây hắn cũng tỉnh táo nhưng hắn đã quên mất một tuần, thì làm sao hắn có thể có được một sự xét xử công bằng? Hắn sẽ không thể tham dự việc biện hộ cho chính mình. Làm sao được khi hắn không hiểu chút gì về những điều mọi người đang nói. Và chính quyền bang đã đẩy hắn vào hoàn cảnh đó. Họ để cho hắn bị hành hung. Điều đó xảy ra trong trại giam của họ. Họ không thể làm điều đó rồi mà vẫn tiếp tục đưa hắn ra tòa.”

“Cha cô sẽ nghĩ như thế nào?”

“Ông ấy sẽ tranh đấu hết mình. Rõ ràng là vậy. Không có công tố viên nào chịu chấp nhận khả năng là chứng mất trí nhớ có thể phá hỏng phiên tòa. Nếu không, người ta sẽ chộp lấy cái cớ này. Người ta sẽ tìm cách để bị đánh nhừ tử trong trại giam trước khi đưa ra xét xử. Đột nhiên sẽ chẳng còn ai nhớ được điều gì.”

“Chuyện này chắc đã từng xảy ra trước đây.”

Helen gật đầu, “Đúng vậy.”

“Vậy những cuốn sách luật nói thế nào?”

“Giờ tôi đang đọc đây. Như anh thấy đó. Dusky kiện chính phủ Hoa Kỳ, Wilson kiện chính phủ Hoa Kỳ.”

“Và?”

“Có rất nhiều chữ nếu và chữ nhưng.”

Reacher không nói gì. Helen nhìn thẳng vào ông.

“Nó đang vượt ra ngoài kiểm soát. Giờ thì sẽ có một phiên tòa để xét xử một phiên tòa. Đó là một chuyện rồi sẽ có thể dẫn đến tận tòa án tối cao. Tôi không đủ trình độ cho điều đó. Và tôi không muốn có chuyện đó. Tôi không muốn là một luật sư gỡ tội cho thân chủ nhờ những tiểu tiết dớ dẩn. Tôi không phải loại đó và nó là một thứ nhãn hiệu mà ngay bây giờ tôi chưa muốn rước vào.”

“Vậy thì cứ tuyên bố hắn có tội và mặc kệ mọi chuyện.”

“Tối qua khi ông gọi cho tôi, tôi nghĩ sáng nay ông sẽ đến đây và nói với tôi rằng hắn vô tội.”

Reacher nói, “Cô đừng mơ.”

Cô nhìn ra chỗ khác.

Ông nói, “Tuy nhiên.”

Cô quay lại, “Có "tuy nhiên" nữa à?”

Ông gật đầu, “Rủi thay.”

“Tuy nhiên cái gì?”

“Hắn không hoàn toàn có tội như tôi đã nghĩ.”

“Sao lại thế?”

“Lấy xe đi, tôi sẽ chỉ cho cô thấy.”

Họ cùng đi xuống bãi đậu xe dưới hầm chỉ dành cho người trong tòa cao ốc. Bên trong có những xe truyền hình của NBC, và xe hơi, xe tải nhỏ và xe thể thao đa dụng nhiều đời nhiều kiểu. Có một chiếc Mustang mui lật mới màu xanh, có dán nhãn NBC trên kính xe. Xe của Ann Yanni, hiển nhiên, Reacher nghĩ. Đúng phong cách cô ta. Cô ta có thể để mui trần lái trong những ngày nghỉ, và kéo mui lên trong những ngày làm việc, để giữ kiểu tóc không bị hỏng khi quay phim. Trừ phi cô ta dùng rất nhiều keo xịt tóc.

Xe của Helen Rodin là một chiếc xe nhỏ màu xanh sậm, tầm thường đến nỗi Reacher không biết hiệu gì. Có lẽ là một chiếc Saturn. Trông nó bụi bặm và cũ. Nó là thứ xe của sinh viên mới ra trường, thứ mà người ta chỉ dùng cho đến khi họ được lãnh lương lần đầu, và tiền thuê xe hàng tháng trở nên có thể kham được. Reacher hiểu rất rõ về tiền thuê xe. Những trận bóng chày trên tivi chiếu rất nhiều quảng cáo. Quảng cáo hiện lên sau mỗi hiệp và mỗi lần gọi vào khu chuẩn bị.

Helen hỏi, “Chúng ta đi đâu đây?”

Reacher đáp, “Về hướng Nam.”

Ông đẩy ghế ngồi của mình ra phía sau và đè bẹp nhiều thứ linh tinh vương vãi dưới sàn xe. Ghế ngồi của cô kéo sát gần tay lái, mặc dù cô không phải là người thấp. Thế là ông gần như nhìn cô từ đằng sau.

Cô hỏi, “Ông biết được chuyện gì?”

Ông đáp, “Vấn đề không phải là điều tôi biết. Mà là điều James Barr biết.”

“Về chuyện gì?”

“Về tôi.”

Cô lái ra khỏi nhà để xe và nhắm về hướng Nam, xuống con đường song song với đường số Một. Tám giờ sáng, dòng xe cộ vẫn còn đông. Ngược chiều với dòng xe giờ cao điểm buổi chiều, chắc vậy.

Cô hỏi, “James Barr biết gì về ông?”

Ông đáp, “Một điều gì đó khiến hắn muốn tôi có mặt ở đây.”

“Lẽ ra anh ta phải ghét ông mới phải.”

“Chắc chắn hắn ghét tôi. Nhưng hắn vẫn muốn tôi có mặt ở đây.”

Cô chạy về hướng Nam, nhắm về phía dòng sông.

Reacher nói, “Trước đó hắn chưa bao giờ gặp tôi. Không bao giờ gặp lại tôi sau đó. Chúng tôi biết nhau trong ba tuần, hơn mười bốn năm về trước.”

“Anh ta biết ông với tư cách một điều tra viên. Người phá được một vụ án gay go.”

“Vụ án mà hắn nghĩ là không thể phá được. Hắn theo dõi tôi làm vụ đó từng bước một. Hắn ngồi hàng ghế đầu. Hắn nghĩ tôi là một thiên tài điều tra.”

“Đó là lý do anh ta muốn ông có mặt ở đây à?”

Reacher gật đầu, “Tôi thức suốt đêm qua để thử đặt mình vào vị trí của hắn.”

Họ chạy qua sông trên một khung cầu sắt dài. Mặt trời ở bên trái họ. Cầu tàu bên tay phải. Dòng nước xám từ từ chảy qua nó lững lờ.

Reacher nói, “Giờ thì chạy về hướng Tây đi.”

Cô rẽ phải vào con đường hai làn xe của hạt. Có những cửa hàng bán mồi câu bên bờ sông và những quán bán thịt nướng, bia, và nước đá.

Cô nói, “Nhưng vụ án này đã được phá xong rồi. Anh ta biết vậy mà.

Reacher nói, “Vụ này chỉ mới được phá một nửa. Đó là những gì hắn biết.”

“Một nửa à?”

Reacher gật đầu, mặc dù ông đang ngồi phía sau cô.

Ông nói, “Có nhiều điều trong vụ này hơn những gì Emerson thấy. Barr muốn một ai khác hiểu được điều đó. Nhưng luật sư đầu tiên của hắn lại ù lì quá. Ông ta không mấy quan tâm. Đó là lý do khiến Barr trở nên giận dữ.”

“Có thêm điều gì nữa?”

“Tôi sẽ cho cô thấy.”

“Nhiều lắm à?”

“Tôi cho là vậy.”

“Vậy tại sao anh ta không đưa những dữ kiện đó ra, dù chúng là điều gì đi nữa?”

“Bởi vì hắn không thể. Và bởi vì dù sao đi nữa cũng không có ai tin hắn.”

“Tại sao? Cái khỉ gì đang xảy ra ở đây vậy?”

Có một cái giao lộ bốn vòng xuyến ở trước mặt, đúng như ông đã hy vọng.

Ông lặp lại, “Tôi sẽ chỉ cho cô xem. Rẽ sang phía Bắc vào xa lộ.”

Cô nhấn ga lên đoạn dốc rồi nhập vào dòng xe đang lưu thông. Có một dòng xe hỗn hợp xuôi về hướng Bắc. Xe tải mười tám bánh, xe thùng, xe tải hạng nhẹ, xe hơi. Con đường vượt qua dòng sông trở lại trên một chiếc cầu bê tông. Cầu tàu ẩn hiện xa xa trong tầm mắt về hướng Đông. Trung tâm thành phố trước mặt, về phía tay phải. Xa lộ vươn lên thoai thoải trên những chiếc cột chống. Helen chạy thẳng về phía trước, mái của các tòa nhà thấp bên rìa thành phố chạy vụt qua hai bên.

Reacher nói, “Chuẩn bị rẽ vào con đường nhỏ chạy sau lưng thư viện nhé.”

Nó sẽ là lối rẽ nằm bên tay phải, được báo trước bằng tấm biển chỉ đường. Vạch đứt phân chia làn xe bên phải với làn xe giữa biến thành một vạch liền. Rồi vạch liền biến thành một hình nêm hẹp. Dòng xe chạy thẳng bị đẩy về làn trái. Lối rẽ chạy hơi nghiêng về bên phải. Họ theo lối đó. Hình nêm mở rộng ra trở thành một đảo phân dòng đầy những đường xiên trắng. Phía trước là những lằn báo cho xe toàn cạnh nhau ở tốc độ cao qua chỗ ngoặt. Các kỹ sư công chính đã suy nghĩ cặn giảm tốc độ màu vàng. Họ vượt qua chúng, vào con đường nhỏ chạy vòng phía sau thư viện. Reacher trở mình trên ghế và nhìn kính chiếu hậu. Không có ai chạy theo họ.

Ông nói, “Chạy chậm thôi.”

Thêm chừng hai trăm thước nữa con đường nhỏ bắt đầu cua vòng, phía sau thư viện, phía sau tòa cao ốc kính đen. Mặt đường đủ rộng cho hai làn xe. Nhưng vòng bán kính lại quá chật để hai làn xe chạy an toàn cạnh nhau ở tốc độ cao qua chỗ ngoặt. Các kỹ sư công chính đã suy nghĩ cặn kẽ hơn về điều này. Họ đề nghị làm thêm một đường cong thoải hơn. Họ đã thiết kế một làn xe đơn cắt qua chỗ ngoặt. Nó hơi rộng hơn làn xe bình thường để phòng ngừa những phán đoán sai của người lưu thông. Nó bắt đầu từ rất xa bên trái họ, rồi đột ngột tạt về bên phải và cắt qua đỉnh của đoạn cua với một độ cong nhỏ hơn.

Reacher nói, “Giờ thì chạy thật chậm nhé.”

Chiếc xe chậm lại. Đằng trước họ rất xa, phía bên trái là một đảo phân cách hình vầng trăng khuyết. Bắt đầu ngay kế bên họ, về phía tay phải là một đảo phân cách hình một tam giác hẹp và dài. Chỉ là những vạch sơn trên nền đường, nhưng chúng hướng dẫn và giữ cho người ta an toàn.

Reacher nói, “Ghé vào. Ở đây, ngay bên phải.”

Helen nói, “Đâu được dừng ở đây.”

“Làm như là xe bị xẹp lốp. Cứ ghé vào. Ngay đây.”

Cô phanh gấp, đánh lái và rẽ vào khoảng trống với những vạch trắng xiên bên tay phải họ. Họ cảm thấy những vạch sơn dày nảy lên dưới bánh xe. Một nhịp điệu rung rinh nhẹ. Nó chậm dần theo tốc độ phải vạch xe.

Cô dừng hẳn xe.

Reacher nói, “Lùi lại một chút.”

Cô lùi xe lại như thể cô đậu song song với đường chắn bằng bê tông.

Reacher nói, “Giờ thì nhích lên khoảng một thước.”

Cô cho xe nhích lên.

Ông nói, “OK.”