An Nam Chí Lược

Học Hiệu

Học Hiệu

Triệu-Đà làm vua Nam-Việt, mới lấy thi, lễ giáo-hóa nhân-dân một ít. Cuối đời Tây-Hán, Tích Quang cai-trị Giao-chỉ Nhâm-Diên cai trị Cửu-Chân, dựng nhà học-hiệu, dạy dân noi theo nhân nghĩa.

Thời Hán, Đường, thường cống những người tiến-sĩ minh-kinh (những người học hành thông-thái) như bọn Lý-Cấm, Trương-Trọng, Khương-Công-Phụ,... Đến đời Tống, An-nam lập thành Quốc-Gia, họ Lý đặt phép khoa-cử ba năm một kỳ thi, lấy trạng-nguyên, bảng-nhãn, Thái-hoa-lang, thành ra điển-lệ. Những người thi đậu được ban cấp áo mão, võng ngựa vinh-qui.

Quan-Chế

Từ nhà Đinh trở về sau, mới chịu vương-tước của nhà Tống gia-phong. Nhưng ở trong nước tự đặt danh-hiệu, bắt chước việc cũ của Triệu-Đà, tự phong trong nước có vương, hầu; đặt quan có "chánh", có "tiếp", cũng giống như "phẩm" và "tòng" vậy.Vương Tự-vương

Vương

Tự-vương

Thượng-Hầu

Hầu

Tiếp hầu (sau tước Hầu một bậc)

Nội-Minh-Tự (các quan hầu cận thêm chữ "Nội" lên trên)

Minh-tự

Tiếp-Minh-Tự

Nội-đại-liêu-ban

Đại-liêu-ban

Đại-liêu

Thân-vương-ban (danh tước của thân thuộc vua)

Nội-ký-ban

Ký-ban

Nội-Chư Vệ

Chư-Vệ

(trên đây xen lẫn cả văn cả võ)

Võ:

 Nội-lang-tướng

Lang-tướng

Văn:

 Nội-lệnh-thư-gia

Lệnh-thư-gia

Võ:

 Nội-thượng-ban

Thượng-ban

Võ:

 Nội-thượng-chế

Thượng-chế

Văn:

 Nội-viên-ngoại-lang

Viên-ngoại-lang

Võ:

 Nội-Cung-phụng

Cung-phụng

Võ:

 Nội-Thị-CầmThị-Cầm

Văn:

Hiệu-thư-lang, quyền miễn cung-hậu thư-xá. (chữ "xá" có chỗ viết chữ "gia").

Võ:

Nội-trực-điện Trực-điện
Văn:Cung-hậu xá-nhânThư-Xá
Văn: Xá-nhân Sư-Ông
Võ:Tá-chức Tá-chức-quan
Văn: Đô-tàoBinh-tào

Tể-thần tiếm-hiệu

Thái-Sư

Thái-uý-bình-chương-sự

Thái-phó

Thái-bảo

Phụ-quốc

Thiếu-sư

Thiếu-bảo

Thiếu-phó

Tả, Hữu-bộc

Tham-tri-chính-sự

Võ-Soái

Đô-Nguyên-Soái

Tiết-Độ-sứ

Đại-tướng-quân

Phó-nguyên-soái

Phó-Tiết-độ

Phó-tướng-quân

(Mấy chức trên nầy, chỉ dùng người tông-tộc nhà vua)

Nội-điện-tiền-chỉ-huy-sứ

Chiêu-thảo-sứ

Thiên-tướng

Tỳ-tướng

Văn-Chức

Ngự-sử-đài-quan

Hàn-lâm-viện-quan

Kiểm-pháp-quan

An-Vũ-Sứ

Thượng-Thư

Đông-Thượng-Các-Môn sứ

An-Vũ-phó-sứ

Tam-ty-viện quan-nhân:

(tức là nơi xử kiện tụng)

1. Tuyên-thanh

2. Túc-hiến

3. Hình-chánh

An-Vũ-Ty quan-nhân.

Cận-Thị-Quan

Nhập-nội phán-thủ-hầu (quản lãnh các quan hầu cận).

Thượng-phẩm-hầu.

Thượng-phẩm minh-tự.

Thượng-phẩm đại-liêu-quan-ban.

Thượng-phẩm phụng-ngự

Trung-phẩm phụng-ngự

Hạ-phẩm phụng-ngự

Thị-vệ-nhân hỏa-đầu

Thị-vệ-nhân dũng-thủ

Thị-vệ-nhân

Phân-quyền-nhân

Thái-sư Thái-uý nha đô-quan (tức là những chức phụ, lấy các viên Minh-tự sung vào).

Vương-hầu-gia-hành-khiển (quyết-vệ, nội-thị)

Vương-hầu-nha-quản-giáp (cũng giống chức hành-khiển, một văn-chức, một vũ-chức, đều có đặt quản-hầu).

Phương-Trấn

Thượng-lộ trại-chủ (lấy các quan hầu và Minh-tự làm chức ấy).

Phó trại-chủ (tục gọi là Hành-Khiển hay Thượng-thư, lấy các quan Minh-Tự, Đại-liêu làm chức  ấy).

Tri-châu

 Quan-sát

Sát-hải 

Áp-ngục-quan

Trấn-Át

Thể-tập hương-ấp quan

 (quan làng, đời đời kế tập)

Quản-giáp (Có thượng, trung, hạ, ba bậc, lấy các quan đại-liêu, lang-tướng làm chức ấy).

Đại-Toát

Tiểu-Toát

Chủ-đô

Phán-cung

(Học-quan, dùng các học-sĩ thi hỏng làm, để dạy học-trò).

Tăng-Quan

(Chức sắc nhà chùa)

Quốc-sư

Tăng-thống

Tăng-lục

Tăng-chính

Đại-hiền-quan

Đạo-Quan

 (Chức sắc các thầy pháp)

Đạo-Lục

Uy-nghi

Đô-quan

Chương-phục

(áo mão phẩm phục)

(phủ-phất, đại-phấn, hoa-trùng: những thẻ như con trùng kết trên mão.

Tổ thọ: lụa thắt lưng.

Thùy bội: những viên ngọc đeo lòng thòng.

Phương-tâm: tấm phụ tâm vuông dính trước ngực áo.

Khúc-lĩnh: cổ áo tràng.

Miễn-lưu: dãi tua đính ở mão, đều hơi giống Trung-quốc).

Quốc-chủ đội mão Bình-thiên, mão Quyển-vân hay mão Phù-dung, mặc áo cổn-y, đeo đai lưng Kim-Long, cổ áo đính là trắng hay bông trắng kết lại, khăn kết tua vàng và ngọc châu, phủ tấm vuông, tràng áo cong, tay cầm ngọc khuê. Lúc khánh lễ, chịu bề tôi lạy mừng.

Mão của tước vương chia ra ba bậc, tước hầu hai bậc, Minh-Tự một bậc, gọi là mão Củng-thần, ở trên có dính con ong, con bướm bằng vàng, lớn nhỏ sưa dày tùy theo cấp bậc. Thân-vương mặc áo Tiêu kim-tử-phục (áo tía thêu kim-tuyến), Hầu, Minh-tự mặc áo phượng-ngư-tú-phục (áo thêu chim-phượng,cá). Từ đại-liêu-ban trở xuống mặc áo cổn, đội mão miễn, đều có cấp bậc (văn ban thêm con cá vàng). Viên-ngoại-lang, Lang-tướng đội mão miển Kim-ngân-gián-đạo (vàng bạc xen nhau).  Lệnh-thư-xá đến Văn-hiệu-thư-lang (thượng-chế, thị-cấm) đều đội mão miễn bằng bạc. Mão miễn đại lễ mới dùng đến, thường lễ chỉ đội khăn và mặc áo tía, các chức Cung-hầu, Thư-Xá-Ông được mặc. Đai lưng bằng da tê hay bằng vàng tuỳ theo phẩm trật, hốt đều bằng ngà voi. Bọn chức-quan, tá-chức đều đội khăn, mặc áo tía, thắt đai xéo, không cầm hốt, chắp tay lạy quốc-chủ. Bình thường ở nhà đội khăn tàu, thường phục chuộng màu trắng, người trong nước ai mặc đồ trắng, cho là tiếm-chế, duy phụ-nữ thì không cấm về trang-sức. Từ vương, hầu đến thứ dân thường hay mặc xiêm màu huyền, cổ tròn, quần bằng lụa trắng, thích đi giày da. Vương, hầu lúc vào yết-kiến Quốc-chủ, không bịt khăn, tỏ ý thân quý, thứ dân thì không được như vậy. Các nội-quan hầu cận, Thượng-phẩm đội mão dương-thường, đính ong bướm vàng hoặc thưa hoặc nhặt, mặc áo phẩm phục, trung-phẩm thì áo mão, sắc-chế hơi giảm. Hạ-phẩm thì đội mão dương-thường tía, mặc áo tía, thảy đều chắp tay lạy vua, không cầm hốt. Khăn đội thường của quan thượng-phẩm thường dùng nhung màu tía xen màu biếc làm sáu tua kết sau khăn, đai thắt ngang, để tỏ vẻ quan quý. Trung-phẩm kết tua tía, hạ-phẩm tua đen, khảm quanh bằng ngọc, vàng và đồi-mồi, làm cho ra vẻ lạ vậy.

Hình-chính

Theo phép kẻ mưu phản bị giết cả thân-tộc, kẻ giết người phải thường mạng. Bắt được gian phu, được tự chuyên giết chết. Đời gần đây, mới ra lệnh cho gian-phu được lấy 300 quan tiền chuộc tội chết. Dâm-phụ, xử trả về cho người chồng làm tỳ-thiếp và người chồng được phép muốn cầm bán cho ai tự ý. Giết kẻ có quan tước, tùy theo phẩm hàm cao thấp, thường tiền chuộc tội, nhưng phải bị đánh đòn 80 trượng, tội nặng đánh 60 trượng. Giết chết đồng lệ với tội gian dâm. Lỵ-mạ (mắng ruả), kẻ có quan tước, tuỳ việc khinh trọng, khiến phạm-nhân đem tiền và trầu rượu tạ lỗi, số trượng bị đánh cũng như tội trên. Hai người đánh nhau đều có thương-tích, thì kẻ đánh trước bị tội. Kẻ ngụy-tạo những đồ phi-pháp bị thích tội danh lên mặt, đánh đòn (trượng) và đày đi xa. Cường đạo bị xử trảm. Thiết đạo mới sơ phạm, bị đánh 80 trượng, thích lên mặt hai chữ "phạm đạo", đồ lấy trộm một thường ra chín, nếu không thường nổi, bắt vợ con ra mà trừ; phạm tội lần thứ hai, chặt tay chân, lần thứ ba, giết chết. Kẻ vu cáo trở lại bị tội (nghĩa là bị tội mà mình đã vu cáo cho người).

Công-điền phải hằng năm nạp lúa. Dân hằng năm phải nạp tiền thân-dịch và tháng giêng, tháng bảy đi mừng quan, mùa nào trái ấy, cá, gạo, v.v...

Kẻ nông, thương, khỏi bị trưng thâu lương thuế. - (đất hẹp người đông, đời trước đặt ra phép nầy để bớt gánh nặng cho dân).

Quan lại nào liêm minh, có tài xử đoán việc thưa kiện, đều được xét công thăng chức.

Đồ đo lường, cân, trái cân thảy đều giống Trung-quốc, chỉ có vàng bạc, sô đoạn, tơ gai, vị thuốc, các món ấy đều tự tính mà thôi. Mua bán giao-dịch dùng tiền thời Đường, Tống, 70 chữ (văn) làm 1 tiền, 700 chữ làm một quan. Thiếu nợ có thể bị giam cầm, trả hết vốn lãi mới được thả ra. Cùng-dân không thể tự nuôi sống, có thể tự cầm bán mình cho người khác.

Binh-chế

Quân không có sổ bộ nhất định, chọn những dân tráng-kiện sung vào, 5 người làm một ngũ, 10 ngũ làm một đô; lại lựa hai người lanh-lẹ và có tài cho coi việc giảng tập vũ-nghệ. Đòi nhập ngũ thì ra, lúc rảnh cho về làm ruộng.

Thân-quân

Thánh-dực-đô

Thần-dực-đô

Long-dực-đô

Hổ-dực-đô

Phụng-vệ quan-chức-đô

(có phận sự đi bắt và ghi những tội-phạm. Các đô trên nầy đều có tả-đô, hữu-đô)

Du-quân

Thiết-lâm-đô

Thiết-hạm-đô

Hùng-hổ-đô

Vũ-An-Đô

Gia-nhân của các Vương-Hầu

Toàn-Hầu-đô

Dước-Đồng-đô

Sơn-liệu-đô (còn nữa, nhưng không chép).

Sứ-thần các Triều-đại

Sứ-thần đời Triệu

Thời Cao-Hậu nhà Hán, Nam-Việt Triệu-Đà khiến Nội-sử Phan, Trung-uý Cao, Ngự-sử Bình, ba bọn người dâng thư tạ tội, đều chẳng trở về. Đà bèn tiếm xưng đế-hiệu, rồi con cháu noi theo. Khoảng niên-hiệu Nguyên-Đỉnh (116-111 trước Công-Nguyên) (Hán Vũ-Đế), Nam-Việt nội-thuộc Trung-quốc, nhà Hán đặt quan phủ cai trị, trải mấy triều không thay đổi. Đến đời Ngũ-Đại (907-959), biến loạn, Giao-Chỉ Đinh-Bộ-Lĩnh bèn cứ quốc xưng vương.

Sứ-thần đời Đinh

Đầu đời Tống, Đinh-Bộ-Lĩnh khiến sứ tiến cống, Thái-Tổ (960-975), phong Bộ-Lĩnh làm Giao-Chỉ Quận-vương. Khoảng niên-hiệu Khai-Bửu (968-975), Đinh-Liễn kế tập ngôi cha, khiến Trịnh-Tú, Vương-Thiệu-Tộ, Giang-Cự-Hoàng tiến cống vàng lụa, tê-ngưu voi.

Sứ-thần đời Lê

Nhà Tống, năm Thái-Bình-Hưng-quốc thứ 5 (980), Lê-Hoàn cướp ngôi họ Đinh, khiến Triệu-Tử-Ái, Trương-Thiệu-Bằng cống vật thổ-sản, Thái-Tông phong Hoàn làm Giao-Chỉ Quận-vương.

Nhà Tống, hiệu Cảnh-Đức năm đầu (1004), Lê-Hoàn khiến con là Lê-Minh-Đề vào cống. Thái-Tông vời đến tiện-điện vũ ủi thăm hỏi và phong tước cho Minh-Đế. Tháng 3 năm thứ 3 (1006), Lê-Hoàn mất, con là Long-Đỉnh lên làm vua, khiến em là Lê-Minh-Vĩnh cùng Chưởng-thư-ký Hoàng-Thành-Nhã vào cống. Thiên-Tử vời vào điện, vỗ về thăm hỏi rất lâu, phong tước vương cho Long-Đỉnh và ban cho tên Chí-Trung, bọn Minh-Vĩnh cũng được phong chức tước.

Sứ-thần đời Lý

Nhà Tống năm Đại-Trung-Tường-Phù thứ 3 (1010), Lý-Công-Uẩn soán ngôi họ Lê, được Nhân-Tông phong làm Giao-Chỉ quận-vương, Công-Uẩn khiến bồi-thần Lương-Nhiệm-Văn, Lê-Tái-Nghiêm tiến cống. Thiên-Tử ban tước-mệnh cho bọn Nhiệm-Văn. Năm thứ 5 (1012), khiến Lý-Nhân-Mỹ, Đào-Khánh Văn, Đào-Thạc, Ngô-Hoài-Tự vào cống, sứ-thần đều được phong quan. Năm Thiên-Hy thứ 3 (1019) Công-Uẩn khiến em là Lý-Hạc vào cống. Năm đầu Càn-Hưng (1022) lại khiến Lý-Khoan-Thái, Nguyễn-Thủ-Cường vào cống, mừng Nhơn-Tông lên ngôi. Năm Thiên-Thánh thứ hai (1024), Thiên-Tử xuống chiếu hồi đáp, ban cho Công-Uẩn tiền bạc, vật-dụng để tỏ ý cưu mến người xa.

Sứ-thần đời Trần

Mùa Đông năm Đinh-Tỵ (1257), nhà Đại-Nguyên, Đại-Súy Ngột-Lương-Hộp-Thái đem binh tới An-nam, Trần-Thái-Vương khiến bồi-thần Viện-Học-Sĩ dâng biểu cống phương vật. Năm Tân-Dậu, Trung-Thống thứ 2 (1261), Trần-Thái-Vương khiến Đại-phu Nguyễn-Thâm, Nguyễn-Diễn tiến cống. Năm Quý-Hợi thứ 4 (1263), khiến điện-tiền Phạm-Cự-Địa và Trần-Kiều, tiến cống voi. Thiên-Tử xuống ân chiếu khiến An-nam ba năm một lần triều cống.

Năm Bính-Dần Chí-Nguyên thứ 3 (1266), khiến Đại-phu Dương-An-Dưỡng và Võ-Hoàn tiến cống.

Năm Mậu-Thìn, Chí-Nguyên (1268), khiến Đại-phu Phạm-Nhai và Châu-Lãm đi cống.

Năm Canh-Ngọ, Chí-Nguyên (1270), khiến Đại-phu Lê-Đà và Đinh-Củng-Viên đi cống.

Năm Nhâm-Thân Chí-Nguyên (1272), khiến Đại-phu Đồng-Tử-Dã và Đỗ-Mộc đi cống.

Năm Tân-Vị, Chí-Nguyên (1271), khiến Đại-phu Phùng-Trang và Nguyễn-Nguyên đi cống.

Năm Ất-Hợi Chí-Nguyên (1275) khiến Đại-phu Lê-Khắc-Phục và Lê-Văn-Túy đi cống, gặp lúc đạibinh đánh nhà Tống, năm sau (1276), bọn Khắc-Phục mới đi theo đường Hồ, Quảng về nước.

Năm Đinh-Sửu Chí-Nguyên thứ 14 (1277), Trần-Thái-Vương mất, con lên ngôi, khiến Đại-phu Châu-Trọng-Ngạn và Ngô-Đức-Thiệu tiến cống. Năm sau Thế-Tổ Hoàng-Đế khiến Lễ-Bộ Thượng-Thư Sài-Thung qua vời Thế-Tử vào chầu. Thế-Tử lấy cớ đương đau không đi, khiến đại-phu Trịnh-Đình-Toản và Đỗ-Quốc-Kế vào cống. Đình-Toản bị câu-lưu ở Kinh-sư.

Năm Canh-Thìn, Chí-Nguyên (1280), lại khiến Sài-Thượng-Thơ đưa Đỗ-Quốc-Kế về và đưa chỉ dụ Thế-Tử. Thế-Tử sợ, khiến Tùng-thúc (chú thúc bá) Trần-Di-Ái vào chầu thay mình, Lê-Trọng-Đà làm phó.

Năm Nhâm-Ngọ thứ 19 (1282), Thế-Tử khiến Đại-phu Lê-Nổ và Đặng-Hữu-Điểm vào cống.

Năm Quí-Vỵ Chí-Nguyên (1283), khiến Đại-phu Nguyễn-Đạo-Học vào cống.

Năm Nhâm-Ngọ Chí-Nguyên (1282), sai Hữu-Thừa Toa-Đô đánh Chiêm-Thành. Mùa đông năm Giáp-Thân (1284), Triều-đình khiến sứ dụ Thế-Tử mượn đường tiến binh, khiến giúp quân, vận tống lương-thực. Thế-Tử sợ, khiến Đại-phu Trần-Khiêm-Phủ và Trần-Quân đến Hành-sảnh Chiêm-Thành ở Kinh-Hồ cầu xin hoãn binh, không chấp thuận. Lại khiến Đoàn-Yến và Lê-Quý vào cống. Khi ấy đại-binh đã lên đường, nên câu-lưu bọn Đoàn-Yến ở lại Kinh-sư, Thế-Tử lại khiến Nguyễn-Văn-Hàn xin đình việc quân lại. Mùa đông năm ấy, đại-binh của Trấn-Nam-Vương đến biên-cảnh, bắt Văn-Hàn làm hướng-đạo, phá được cửa ải Nội-Bàng, Trấn-Nam-Vương mừng và tha Văn-Hàn cho về dụ chúa đầu hàng cho sớm. Thế-Tử không nghe, Văn-Hàn bèn dụ tôn-tử Văn-Nghĩa-Hầu Trần-Tú-Viên đem gia-quyến qui thuận. Năm sau, triều-đình cho Văn-Hàn làm Trung-thuận đại-phu Qui-hoá-giang-lộ Tuyên-Vũ-sứ (hư hàm).

Tháng giêng năm Ất-Dậu hiệu Chí-Nguyên (1285), quan-binh hạ La-Thành, Thế-Tử khiến Tôn nhơn Trung-Hiếu-Hầu Trần-Thang và Đại-phu Nguyễn-Nhuệ làm phó, đến xin hoà. Sứ-thần bị câu-lưu ở trong quân. Tháng 5, Trấn-Nam-Vương, vì nắng lụt, rút quân, đem Nguyễn-Nhuệ về bắc. Nhuệ trốn nép dưới cỏ, bị quân lính bắt được đem chém.

Năm Bính-Tuất Chí-Nguyên (1286), khiến đại-phu Nguyễn-Nghĩa-Toàn và Nguyễn-Đức-Vinh tiến cống. Triều-đình vì cớ Thế-Tử không vào chầu, lưu Nghĩa-Toàn lại Kinh-sư.

Năm Đinh-Hợi Chí-Nguyên (1287), khiến Đại-phu Nguyễn-Văn-Ngạn và Bạch-Xá vào cống, gặp lúc triều-đình lại cử binh đi đánh, lưu bọn Văn-Ngạn ở lại vài năm, sau tha cho về nước.

Mùa xuân năm Mậu-Tý hiệu Chí-Nguyên (1288), Trấn-Nam-Vương rút quân về nước, Thế-Tử khiến cận-thị-quan Lý-Tu và Đoàn-Khả-Dung tiến cống phương-vật, tạ tội.

Năm Kỷ-Sửu Chí-Nguyên (1289), khiến Đại-phu Đàm-Chúng vào cống, năm sau Thế-Tử mất.

Năm Tân-Mão Chí-Nguyên (1291), Thế-Tử (Trần-Nhân-Tông) khiến Đại-phu Nghiêm-Trọng-Duy và Trần-Tử-Trường vào cống.

Năm Nhâm-Thìn Chí-Nguyên (1292), Thế-Tử khiến Lệnh-Công Nguyễn-Đại-Phạp và Trung-Tán Hà-Duy-Nghiêm vào cống.

Năm Quý-Tỵ Chí-Nguyên (1293), khiến Tể-tướng Đào-Tử-Kỳ và Đại-phu Lê-Văn-Táo tiến cống. Triều-đình vì cớ Thế-Tử bị triệu, không chịu vào chầu, nên giữ Tử-Kỳ ở lại Giang-Lăng, lập An-nam Hành sảnh để đem binh qua đánh. Năm sau Thành-Tông Hoàng-đế lên ngôi, tha tội Thế-Tử và thả bọn Tử-Kỳ về nước.

Năm đầu Nguyên-Trinh Ất-Vị (1295), khiến Đại-phu Nguyễn-Mạnh-Hiền và Trần-Khắc-Dụng tiến cống. Năm đầu Đại-Đức, Đinh-Dậu (1297), khiến Đại-phu Nguyễn-Văn-Tịch và Phạm-Cát vào cống.

Năm Đại-Đức Mậu-Tuất (1298), khiến Đại-phu Đặng-Bất-Văn và Vũ-Bất-Quỹ vào cống.

Năm Canh-Tý Đại-Đức (1300), khiến Đại-phu Đặng-Lâm (Đặng-Nhữ-Lâm) và Nguyễn-Tất tiến cống.

Năm Nhâm-Dần Đại-Đức (1302), khiến Tể-Tướng Lê-Khắc-Phục và Đại-Phu Đào-Vĩnh vào cống.

Năm Giáp-Thìn Đại-Đức (1304), khiến Đại-Phu Nguyễn-Nhược-Chuyết và Tô-Hân vào cống.

Năm Bính-Ngọ Đại-Đức (1306) khiến Đại-phu Phí-Mộc-Đạc và Lê-Nguyên-Tông vào cống.

Năm đầu Chi-Đại, Mậu-Thân (1308), khiến Đại-Phu Nguyễn-Khắc-Tuân và Phạm-Kính-Tư đi cống, mừng Vũ-Tông lên ngôi. Sau đó Thế-Tử mất, con lên ngôi.

Năm Kỷ-Dậu, Chí-Đại (1309), Thế-Tử (Trần-Anh-Tông) khiến đại-phu Đồng-Ứng-Thiều và Tạ-Đại-Huân vào cống.

Năm Tân-Hợi Chí-Đại (1311) khiến Đại-Phu Lê-Nhân-Kiệt và Võ-Tử-Ban vào cống.

Năm Hoàng-Khánh thứ 2 (1313), khiến đại-phu Nguyễn-Văn-Diệm và Lê-Thời-Mạo vào cống, mừng Nhân-Tông Hoàng-đế lên ngôi.

Năm đầu Diên-Hựu Giáp-Dần (1314), khiến Đại-phu Đặng-Quốc-Dụng và Ngô-Nguyên-Lão vào cống.

Năm Đinh-Tỵ Diên-Hựu (1317), khiến Đại-phu Doản-Thế-Thôn và Đinh-Quan vào cống.

Năm Canh-Thân Diên-Hựu (1320), Anh-Vương mất, Thế-Tử khiến bồi-thần Đặng-Cung-Kiệm và Đỗ-Sĩ-Tốn vào cống.

Năm đầu Chí-Trị Tân-Dậu (1321), khiến Đại-phu Mạc-Tiết-Phu và Lại-Duy-Cựu vào cống.

Năm Ất-Dậu Thái-Định thứ 2 (1325), khiến Đại-phu Lê-Lão-Ngô và Nguyễn-Duy-Hàn vào cống.

Năm đầu Thiên-Lịch, Mậu-Thìn (1328), khiến đại-phu Nguyễn-Xử-Lạc và Đàm-Ngô-Thiếu vào cống.

Năm đầu Chí-Thuận, Canh-Ngọ (1330), khiến đại-phu Đoàn-Tử-Lai và Lê-Khắc-Tốn vào cống.

Năm Nhâm-Thân Chí-Thuận (1332), khiến đại-phu Đặng-Thế-Diên tiến cống, mừng Văn-Tông Hoàng-đế tức vị.

Năm Giáp-Tuất Nguyên-Thống thứ 2, (1324) Hoàng-Đế đổi niên-hiệu làm Chí-Nguyên năm đầu, Thế-Tử khiến đại-phu Đồng-Hòa-Khanh và Nguyễn-Cố-Phu vào cống, mừng Hoàng-thượng đương kim (Thuận-đế) lên ngôi.

Năm Đinh-Sửu Chí-Nguyên (1337), khiến đại-phu Phan-Công-Trực và Nguyễn-Tất-Chiếu vào cống.

Năm Kỷ-Mão Chí-Nguyên (1339), khiến đại-phu Trần-Quốc-Thiệt vào cống.

An-Nam Chí-Lược Quyển Đệ Thập Tứ Chung

___________________________________________________