Vũ điệu của thần chết

Chương 13

Tôi thấy là có rất nhiều bằng chứng vi lượng đây mà.”

Rhyme hài lòng nhìn những túi nhựa mà Sachs đã mang về từ các hiện trường ở sân bay.

Bằng chứng vi lượng là đối tượng nghiên cứu yêu thích của Rhyme – những mẩu vụn hoặc hạt nhỏ, nhiều khi phải nhìn bằng kính hiển vi, do hung thủ để lại hiện trường, hoặc có sẵn ở hiện trường mà hắn vô tình để dính lên người. Chính bằng chứng vi lượng là thứ mà những tên tội phạm ranh ma nhất cũng hầu như không ngờ đến và vì chúng quá nhỏ bé nên ngay cả những tên kỹ tính nhất cũng khó mà phi tang hết được.

“Chiếc túi đầu tiên, Sachs? Nó ở đâu ra vậy?”

Cô giận dữ lật giở những trang sổ tay.

Cái gì đang trêu tức cô ấy nhỉ? Anh tự hỏi. Điều gì đó không ổn, Rhyme có thể cảm thấy. Có liên quan đến sự giận dỗi của cô ấy với Percey Clay, có thể là vì cô ấy lo lắng cho Jerry Banks. Nhưng cũng có thể không phải. Qua những cái liếc lạnh nhạt của Sachs có thể thấy rằng cô ấy không muốn nói về chuyện này. Đối với anh như thế cũng tốt. Tên Vũ công phải bị tóm bằng mọi giá. Đó là ưu tiên duy nhất của họ lúc này.

“Nó được lấy ra từ chiếc hangar nơi tên Vũ công trốn để chờ máy bay đi qua.” Cô cầm hai chiếc túi lên và hất đầu về phía ba chiếc túi còn lại. “Còn kia là ở ổ bắn tỉa của hắn. Đây là chiếc xe của người thợ sơn. Đây là từ chiếc xe chở thực phẩm.”

“Thom… Thom!”, Rhyme hét lên, làm mọi người trong phòng giật mình.

Anh chàng trợ lý hiện ra trên ngưỡng cửa. Anh hỏi bằng giọng hơi dằn dỗi, “Vâng? Tôi đang chuẩn bị ít thức ăn cho mọi người, Lincoln”.

“Thức ăn?”, Rhyme quát lên với vẻ cáu kỉnh. “Chúng tôi không cần ăn. Chúng tôi chỉ cần thêm biểu đồ. Viết đi: “HT- Hai, Hangar”. Đúng rồi, “HT- Hai, Hangar”. Tốt lắm. Thêm cái này nữa. “HT-Ba”. Đây là chỗ hắn nổ súng. Cái ổ bằng cỏ của hắn.”

“Tôi có phải viết thế không?Cái ổ bằng cỏ?”

“Tất nhiên là không. Chỉ là nói đùa thôi mà. Cậu thấy là tôi cũng có khiếu hài hước đấy thôi. Viết đi: “HT- Ba, Ổ bắn tỉa”. Được rồi, bây giờ, trước hết chúng ta sẽ xem xét cái hangar. Anh thấy gì rồi?”

“Những mẩu thủy tinh”, Cooper nói, tay gẩy gẩy những thứ bày trên mặt khay gốm như một gã buôn kim cương. Sachs nói thêm, “Và một số vi chất thu được bằng máy hút bụi, mấy mẫu sợi trên bậu cửa sổ. Không có FR.”

Ý cô muốn nói đến những dấu vân tay do ma sát lên bề mặt đồ vật. Cả ngón tay lẫn bàn tay.

“Hắn quá cẩn thận với dấu vân tay”, Sellitto lẩm bẩm.

“Không, như thế mới đáng mừng”, Rhyme nói, không giấu nổi vẻ khó chịu – như thỉnh thoảng anh vẫn thể hiện – khi thấy không có ai rút ra kết luận nhanh như mình.

“Tại sao?”, viên thám tử hỏi.

“Hắn thận trọng vì hắn đã có tiền án được lưu trong hồ sơ ở đâu đó! Có nghĩa là nếu chúng ta tìm thấy dấu vân tay, chúng ta rất có thể sẽ xác định được danh tính của tên này. Được rồi, được rồi, còn đây là những dấu găng tay cotton, chúng chẳng giúp được gì… Không có dấu giày vì hắn đã rắc sỏi lên sàn hangar. Tên này ranh ma lắm. Nhưng nếu hắn ngu ngốc thì đã không ai cần đến chúng ta làm gì, phải không nào? Được rồi, những mẩu thủy tinh nói lên điều gì?”

“Chúng còn nói lên điều gì được nữa”, Sachs hơi xẵng giọng, “ngoài việc hắn đã phá cửa để chui vào trong hangar?”

“Tôi đang băn khoăn điều đó”, Rhyme nói. “Chúng ta hãy cùng xem nào.”

Mel Cooper đặt vài mảnh vỡ lên mặt bàn kính rồi chỉnh nó dưới ống kính hiển vi điện tử cài đặt ở mức phóng to trung bình. Anh nhấp chuột vào camera để gửi hình ảnh tới máy tính của Rhyme.

Rhyme tập trung nhìn lên màn hình. Anh ra lệnh, “Chuyển sang chế độ chỉ huy”. Nghe giọng nói của anh, máy tính tự động hiển thị một menu tổng hợp trên màn hình sáng rực. Anh không thể điều khiển được bản thân chiếc kính hiển vi nhưng anh có thể lựa chọn những hình ảnh cụ thể trên màn hình máy tính và điều chỉnh chúng – ví dụ như phóng to hay thu nhỏ. “Kéo con trỏ sang trái. Nhấp đúp chuột.”

Rhyme gò người về phía trước, tâm trí hoàn toàn đắm chìm trong những vệt màu sắc cầu vòng của ánh sáng bị khúc xạ. “Trông như kính cửa sổ chịu lực một lớp loại tiêu chuẩn của PPG[52] ấy nhỉ?”

“Đồng ý”, Cooper nói, rồi nhận xét. “Không có những vụn sắc. Chứng tỏ kính bị đập vỡ bằng một vật tầy. Có lẽ hắn dùng cùi chỏ.”

“Ừ hứ, ừ hứ. Kiểm tra những đường vân vỡ xem thế nào, Mel.”

Khi cửa sổ bị ai đó đập vỡ, lớp kính sẽ vỡ vụn ra theo một loạt những đường vân vỡ nhất định – gọi là những đường nứt gãy uốn lượn. Căn cứ vào những đường vân này cảnh sát có thể xác định được chiều hướng của cú va đập.

“Tôi thấy rồi”, người kỹ thuật viên nói. “Những vết nứt vỡ tiêu chuẩn.”

“Kiểm tra đất bụi”, Rhyme đột ngột nói. “Trên những mẩu kính.”

“Thấy rồi. Nước mưa đọng, bùn, nhiên liệu.”

“Bùn đất ở mặtbên nào của kính?”, Rhyme sốt ruột hỏi. Khi Rhyme còn chỉ huy IRD, một trong những lời phàn nàn của các nhân viên dưới quyền là việc anh hành động không khác gì một bà giáo khó tính. Rhyme thì lại coi đó là một lời khen.

“Đó là… ôi.” Cooper ngỡ ngàng. “Sao lại vậy được nhỉ?”

“Sao cơ?” Sachs hỏi.

Rhyme giải thích. Những đường vân vỡ bắt đầu ở mặt sạch của tấm kính và kết thúc bên mặt bẩn. “Hắn đã ở bên trong khi hắn phá cửa kính.”

Chú thích

[52]PPG: Một hãng sản xuất kính và vật liệu xây dựng nổi tiếng tại Mỹ.

“Nhưng không thể như vậy được”, Sachs phản đối. “Tấm kính nằm bên trong hangar cơ mà. Hắn…” Cô chợt dừng lại và gật đầu. “Ý anh là hắn đập vỡ cửa kính từ bên trong, rồi lại xúc những mẫu kính vỡ lên và hất vào trong cùng chung với sỏi. Nhưng tại sao chứ?”

“Những viên sỏi kia không phải là để xóa dấu giày. Mục đích của chúng là để đánh lừa cho chúng ta tin rằng hắn phá cửa sổ vào.Nhưng thật ra hắn đã ở sẵn bên trong hangar và phá cửa sổ ra. Thú vị thật.” Nhà hình sự học trầm ngâm một lúc rồi chợt hét tướng lên, “Kiểm tra bằng chứng kia. Trong đó có tí đồng nào không? Có tí đồng nào dính với than chì không?”.

“Một chiếc chìa khóa”, Sachs nói. “ Anh đang nghĩ rằng có ai đó đã đưa cho hắn chìa khóa để lọt vào hangar.”

“Đó chính xác là những gì tôi đang nghĩ. Hãy kiểm tra xem ai là người sở hữu hoặc đang thuê lại chiếc hangar.”

“Tôi sẽ gọi điện”, Sellitto nói và mở chiếc điện thoại di động của mình.

Cooper nheo mắt và nhìn qua ống kính của một chiếc kính hiển vi khác. Anh tăng mức độ phóng đại lên. “Đậy rồi”, anh nói. “Rất nhiều dấu vết của than chì và đồng. Ngoài ra theo tôi đoán thì còn có cả vết dầu ba trong một nữa. Như vậy đó hẳn phải là một chiếc chìa khóa cũ. Chắc hắn phải loay hoay khá lâu.”

“Hoặc?”, Rhyme gợi ý. “Tiếp đi, thử nghĩ xem!”

“Hoặc đó là một chìa khóa mới được đánh thêm!” Sachs buột miệng.

“Đúng rồi! Một chiếc hơi khó mở. Tốt lắm. Thom, nhờ cậu viết lên biểu đồ! Viết đi: “Vào bằng chìa khóa.”.”

Bằng nét chữ rất rành rọt của mình, chàng trai trẻ viết những từ đó lên bảng.

“Nào, chúng ta còn có thêm những gì nữa nhỉ?” Rhyme mút và thổi vào ống rồi cố đu người lại gần chiếc máy tính hơn. Anh tính toán sai nên va thẳng vào đó, suýt chút nữa làm màn hình máy tính lật nhào.

“Chết tiệt”, anh càu nhàu.

“Anh không sao chứ?” Sellitto hỏi.

“Không sao, tôi không sao cả”, anh xẵng giọng. “Có thêm gì nữa không? Tôi đang hỏi mà – còn gì nữa không?”

Cooper và Sachs quét nốt những bằng chứng còn lại lên một tờ giấy in báo sạch khổ lớn. Họ đeo kính lúp rối bắt đầu kiểm tra qua một lượt. Cooper dùng kẹp gắp một vài mẩu nhỏ lên rồi đặt chúng vào một bàn kính.

“Được rồi”, Cooper nói. “Chúng ta có mấy thớ sợi.”

Vài giây sau Rhyme đã có thể nhìn qua những thớ sợi nhỏ li ti trên màn hình máy tính của mình.

“Anh nghĩ sao, Mel? Giấy, đúng không?”

“Đúng.”

Rhyme nói vào tai nghe, và ra lệnh cho máy tính của mình kéo lướt qua một lượt những hình ảnh được kính hiển vi phóng to về các thớ sợi. “Có vẻ như là hai loại khác nhau. Một loại màu trắng, nhờ nhờ. Loại kia lại màu xanh lục.”

“Màu xanh à? Hay là tiền?” Sellitto gợi ý.

“Có thể.”

“Có đủ để phân tích bằng sắc ký khí không?” Rhyme hỏi. Máy sắc ký khí sẽ phá vỡ cấu trúc của các thớ sợi.

Cooper trả lời là có và tiến hành thực hiện một vài kiểm tra cần thiết.

Anh đọc kết quả từ màn hình máy tính. “Không có cotton, cũng không thấy có natrium carbonate, sulfate hoặc sulfite.”

Đây là những hóa chất thường được thêm vào trong quá trình xử lý và sản xuất giấy chất lượng cao.

“Đây là giấy rẻ tiền. Thuốc nhuộm lại là loại hòa tan trong nước. Không có dấu vết của loại mực gốc dầu.”

“Nếu vậy đây không phải là tiền”, Rhyme tuyên bố.

“Có lẽ là giấy tái chế”, Cooper nói.

Rhyme lại cho phóng to màn hình. Lúc này hình ảnh ma trận đã hiện to lên và những chi tiết thực lại không còn nữa. Anh thoáng bực mình và thầm ước giá như anh đang được nhìn trực tiếp qua ống kính hiển vi thật. Không gì có thể rõ nét hơn hình ảnh của những thiết bị quang học hạng nhất này.

Và rồi anh chợt nhận thấy điều gì đó.

“Mấy cái vết vàng vàng kia, Mel? Hồ dán à?”

Tay kỹ thuật viên đầu hói nhìn qua ống kính của kính hiển vi và tuyên bố, “Đúng rồi. Keo dán phong bì, có vẻ như vậy”.

Vậy rất có thể là chiếc chìa khóa đã được chuyển cho tên Vũ công trong một cái phong bì. Nhưng còn loại giấy màu xanh kia có vai trò gì trong chuyện này? Rhyme hoàn toàn không có câu trả lời.

Sellitto gập điện thoại lại. “Tôi vừa nói chuyện với Ron Talbot ở Hudson Air. Ông ta đã gọi điện cho vài người. Có đoán được ai đang thuê chiếc hangar nơi tên Vũ công đã mai phục không?”

“Phillip Hansen”, Rhyme nói.

“Đúng vậy.”

“Chúng ta đang có những bằng chứng thuyết phục rồi đây”, Sachs phấn khích.

Đúng đấy, Rhyme thầm nghĩ, mặc dù mục tiêu của anh không phải là bàn giao tên Vũ công cho Tổng Chưởng lý với những bằng chứng xác thực. Không, anh muốn đầu của tên khốn kiếp đó được bêu trên sào.

“Còn gì nữa không?”

“Hết rồi.”

“Tốt lắm, vậy chúng ta hãy chuyển sang hiện trường tiếp theo. Ổ bắn tỉa. Đây là nơi hắn phải chịu rất nhiều áp lực. Biết đâu hắn đã sơ sểnh.”

Nhưng, tất nhiên rồi, hắn không hề có một chút sơ sểnh.

Ở đó hoàn toàn không có vỏ đạn nào.

“Lý do là đây”, Cooper nói, sau khi phân tích những dấu vết để lại qua kính hiển vi. “Sợi vải cotton. Hắn dùng một cái khăn lau đĩa để hứng vỏ đạn bắn ra.”

Rhyme gật đầu. “Dấu chân thì sao?”

“Cũng không nốt.” Cô giải thích rằng tên Vũ công đã đi vòng quanh những mảng bùn đất lộ ra trên mặt sân bay, ngay cả khi chạy ra chiếc xe chở thực phẩm để trốn thoát hắn cũng đi trên cỏ.

“Cô tìm được bao nhiêu dấu vân tay?”

“Ở ổ bắn tỉa thì không có cái nào”, Sachs trả lời. “Trong hai chiếc xe thì phải gần hai trăm mẫu.”

Sử dụng AFIS[53] liên kết tất cả những cơ sở dữ liệu những dấu vân tay đã được số hóa của tội phạm, quân nhân, công chức trên cả nước – có thể giúp xác định chủ nhân của phần lớn những dấu vân tay này (mặc dù công việc đó sẽ rất mất thời gian). Nhưng Rhyme đã quá bị ám ảnh với việc truy tìm tên Vũ công, anh không đời nào chịu mất công đề nghị sử dụng AFIS. Sachs cũng thông báo về việc cô tìm thấy những dấu tay có mang găng của hắn trong xe; như vậy những dấu vân tay trần bên trong hai chiếc xe không thể nào là của tên Vũ công.

Cooper dốc cả chiếc túi nhựa vào một khay kiểm tra. Anh và Sachs cùng xem xét qua. “Đất, cỏ, sỏi… Đây rồi này. Anh có nhìn thấy không, Lincoln?” Cooper đặt một bàn kính khác lên.

“Lông[54]”, Cooper nói, mắt vẫn dính chặt vào ống kính. “Ba, bốn, sáu, chín… hơn chục sợi tất cả. Có vẻ như là kiểu lõi tủy liên tục.”

Lõi tủy giống như một dòng kênh chạy xuyên qua chính giữa một sợi tóc hay lông nào đó. Ở người, lõi tủy hoặc là không tồn tại, hoặc là đứt đoạn. Lõi tủy liên tục có nghĩa đây là lông động vật. “Anh nghĩ sao, Mel?”

“Tôi sẽ cho chúng chạy qua SEM”. SEM là kính hiển vi điện tử quét bằng hạt electron. Cooper chọn tỷ lệ phóng đại gấp 1500 lần và điều chỉnh các nút vặn cho đến khi một sợi lông hiện lên chính giữa màn hình. Đó là một sợi lông trắng nhờ nhờ với những vảy sắc cạnh giống như vỏ của một quả dứa.

“Mèo”, Rhyme khẳng định.

“Những con mèo, số nhiều thì đúng hơn”, Cooper chỉnh và lại chăm chú nhìn vào ống kính hiển vi lần nữa. “Hình như chúng ta có một con màu đen và một con tam thể. Cả hai đều có lông ngắn. Cuối cùng là một con màu hung, lông dài và mảnh. Có lẽ là mèo giống Ba Tư, đại loại như thế.”

Rhyme khịt mũi. “Căn cứ vào hồ sơ của tên Vũ công, tôi không nghĩ hắn là một kẻ thích động vật. Hoặc là hắn đóng giả một kẻ có nuôi mèo hoặc hắn đang ở cùng ai đó sở hữu những con vật này”.

“Vẫn là những sợi lông”, Cooper thông báo và đặt một miếng kính lên giá quan sát của kính hiển vi. “Tóc người, Trông nó… khoan đã, hai sợi dài khoảng sáu inch.”

“Chẳng lẽ hắn bị rụng tóc à?” Sellitto hỏi.

“Ai mà biết được?” Rhyme nói vẻ hoài nghi. Không có phần chân tóc ngắn kèm, không thể nào xác định được giới tính của người đã rụng mất hai sợi tóc này. Việc xác định tuổi tác, trừ phi là tóc của trẻ sơ sinh, cũng là điều không thể.

Chú thích

[53]AFIS (Viết tắt của Automated Fingerprint Identification Systems): Hệ thống nhận dạng dấu vân tay tự động.

[54]Trong tiếng Anh “hair” là từ được dùng để chỉ “lông” và “tóc” nói chung. Nên khi Cooper nói “lông” thì cũng có thể hiểu là “tóc”.

Rhyme gợi ý, “Biết đâu đó là tóc của tay thợ sơn. Sachs? Anh ta để tác dài à?”.

“Không. Húi cua. Hơn nữa lại là tóc vàng.”

“Anh nghĩ sao, Mel?”

Người kỹ thuật viên xem xét chiều dài của sợi tóc. “Đây là tóc nhuộm.”

“Tên Vũ công vẫn thường xuyên thay đổi hình dạng”, Rhyme nói.

“Tôi không biết, Lincoln”, Cooper nói. “Loại thuốc nhuộm này khá giống với màu tóc tự nhiên. Theo tôi, hắn sẽ phải chọn loại nào đó thực sự khác biệt nếu như hắn muốn thay đổi hình dạng. Khoan đã, tôi nhìn thấy hai loại màu nhuộm. Màu tóc tự nhiên là màu đen. Đã được nhuộm thêm chút nâu vàng, và mới đây là lần nhuộm màu ánh tím thẫm. Cách nhau khoảng hai, ba tháng gì đó.”

“Tôi cũng thấy ở đây còn rất nhiều dư chất dính lại, Lincoln. Tôi sẽ cho phân tích một sợi qua sắc ký khí.”

“Làm đi”

Một lát sau Cooper bắt đầu đọc kết quả từ biểu đồ hiện ra trên máy tính kết nối với sắc ký khí. “Tốt rồi, chúng ta tìm thấy một loại mỹ phẩm nào đó.”

Đồ trang điểm rất có ích đối với nhà hình sự học; các nhà sản xuất mỹ phẩm vẫn khét tiếng là hay chơi trò thay đổi công thức các sản phẩm của mình để khai thác tối đa những trào lưu thời trang mới. Từ các thành phần khác nhau có thể lần ra ngày sản xuất cụ thể và thậm chí là khu vực phân phối.

“Chúng ta có những gì rồi?”

“Chờ chút”. Cooper đang bận chuyển công thức tới cơ sở dữ liệu các loại sản phẩm. Một lát sau anh đã có câu trả lời. “Slim-U-Lite. Hàng của Thụy Sĩ, do công ty Jencon nhập khẩu, có trụ sở bên ngoài Boston. Đây là một loại xà phòng tắm có gốc chất tẩy rửa được bổ sung thêm tinh dầu và các loại amino acid. Loại này cũng đang gây tranh cãi – FTC[55] đang điều tra tuyên bố của nhà sản xuất rằng nó có thể lấy bớt đi mỡ và cellulite[56] trên cơ thể”.

“Hãy thử dựng chân dung xem”, Rhyme nói. “Sachs, cô nghĩ thế nào?”.

“Về hắn ư?”

“Về cô ta. Người đang giúp đỡ và tiếp tay cho hắn. Hoặc cũng có thể là người đã bị hắn sát hại để ẩn náu trong căn hộ của cô ta. Hoặc đánh cắp chiếc xe của cô ta.”

“Anh dám chắc đây là một phụ nữ ư?”, Lon Sellitto hoài nghi.

“Không. Nhưng chúng ta cũng không còn thời gian để mà nhút nhát khi đưa ra những suy đoán nữa. Phụ nữ lo lắng về vấn đề cellulite hơn là cánh nam giới. Số phụ nữ nhuộm tóc cũng nhiều hơn nam giới. Suy đoán táo bạo vào! Nghĩ đi!”

“Hừm, thừa cân”, Sachs buột miệng. “Có vấn đề về tự ti về hình ảnh bản thân.”

“Có thể là mang phong cách punk, Làn sóng Mới, hay bất kỳ cái tên nào mà bọn trẻ ranh dị hợm đang tự gọi chúng ngày nay”, Sellitto góp ý. “Con gái tôi cũng nhuộm tóc màu tím. Nó còn xỏ khuyên này nọ nữa, tôi không muốn đề cập tới vấn đề này. Liệu có thể là dân mạn East Village[57] không?”

“Tôi không nghĩ cô ta mang hình ảnh của một người nổi loạn”, Sachs nói. “Không phải là với những gam màu này. Chúng hoàn toàn chưa đủ độ khác biệt. Cô ta chỉ đang cố tỏ ra sành điệu nhưng tất cả những gì cô ta mất công làm đều không có tác dụng. Theo tôi đây là một phụ nữ béo phì, tóc ngắn, khoảng ngoài ba mươi tuổi, có nghề nghiệp. Sống độc thân với lũ mèo của mình vào buổi tối.”

Rhyme gật đầu, chăm chú nhìn biểu đồ. “Cô đơn. Đúng là kiểu người dễ bị dụ dỗ bởi một kẻ có cái lưỡi dẻo quẹo. Hãy kiểm tra qua các bác sĩ thú y xem. Chúng ta biết là cô ta có ba con mèo, ba màu khác nhau.”

“Nhưng ở đâu chứ?” Sellitto hỏi. “Westchester? Hay Manhattan?”

“Trước hết chúng ta hãy đặt câu hỏi”, Rhyme trầm ngâm, “tại sao hắn phải bám lấy người phụ nữ này?”.

Sachs búng ngón tay đánh tách. “Bởi vì hắn buộc phải làm thế! Bởi vì suýt chút nữa chúng ta đã tóm được hắn.” Gương mặt cô vụt sáng bừng lên. Một phần con người cô nàng Amelia mọi khi đã quay trở lại.

“Chính xác!”, Rhyme nói. “Sáng nay, gần nhà của Percey. Khi ESU ập tới.”

Sachs nói tiếp. “Hắn đã bỏ lại chiếc xe thùng và lẩn trốn trong căn hộ của cô ta đến khi an toàn mới mò ra.”

Rhyme nói với Sellitto, “Hãy cho người gọi điện tới chỗ các bác sĩ thú y. Trong khoảng mười khối phố xung quanh ngôi nhà của Percey. Không, cho kiểm tra toàn bộ khu Upper East Side đi. Gọi điện đi, Lon, gọi ngay đi!”

Trong lúc viên thám tử vội vã bấm số trên điện thoại, Sachs lo lắng hỏi, “Anh nghĩ cô ta không sao chứ? Người phụ nữ kia ấy?”.

Rhyme trả lời từ trái tim mình mặc dù không phải với những gì anh tin là sự thật. “Chúng ta có thể hy vọng thế, Sachs. Chúng ta có thể hy vọng.”

Chú thích

[55]FTC (viết tắt của Federal Trade Commission): Ủy ban Thương mại Liên bang.

[56]Cellulite: Những ngấn mỡ thừa lồi lõm dưới da, nhất là ở phần đùi và mông của phụ nữ.

[57]East Village: Một khu dân cư thuộc Manhattan ở thành phố New York, nơi tập trung nhiều văn nghệ sĩ và giới thanh niên mang tư tưởng cấp tiến, nổi loạn. Cũng là nơi sản sinh nhiều ban nhạc rock nổi tiếng mang phong cách punk.