Tùy Đường Diễn Nghĩa

Hồi Thứ Năm Mươi Bảy

Thơ rằng:

Y, Lạc kinh thành nước chảy reo (1)

Tùy triều dượng khí chẳng bao nhiêu

Búa rìu mới xếp, can qua đấy

Son sắt vừa thề, thoán đoạn theo

Ếch giếng nhìn nam, vua Trịnh ngáp

Kiến đàn kéo bắc, lính Đường reo

Thịnh suy chớp mắt, chòm mây nổi

Gò nấm mang Sơn, nguyệt hắt hiu.

1 Y, Lạc: Hai con sông chảy quanh kinh đô Lạc Dương của nhà Tùy.

*

Nay lại nói chuyện Yết Bà Na giết Lưu Vũ Chu, Tống Kim Cương, giao hai thủ cấp cho Lưu Thế Nhượng mang đi. Tần Vương hứa với Yết Bà Na cùng kéo binh đánh Trịnh, nên nhổ trại kéo về Hà Nam. Nhân thấy Hoa Mộc Lan tướng mạo khôi ngô, cử chỉ linh lợi, liền thăng cho làm Hậu đội mã quân đầu lĩnh. Mấy nghìn người ngựa, kéo đến vùng Diêm Cương, bỗng thấy nhốn nháo trước núi, một đội người ngựa xông ra. Yết Bà Na thấy thế, liền sai tướng lên lớn tiếng hỏi:

- Các ngươi là ai ở đâu tới?

Một viên tướng trả lời:

- Ta là đại tướng Phạm Nguyện, dưới trướng Hạ Vương Đậu Kiến Đức.

Thì ra công chúa Đậu Tuyến Nương, muốn đến miếu Tây Nhạc ở Hoa Sơn để dâng hương, nên Kiến Đức sai Phạm Nguyện lãnh binh hộ giá, lúc này đã dâng hương xong, quay về gặp toán người ngựa của Yết Bà Na. Phạm Nguyện thấy thế, liền hỏi:

- Các ngươi ở Tây Đột Quyết, đến Trung Quốc chúng ta có việc gì?

Khả hãn đáp:

- Vua Đường mời ta cùng đi đánh Trịnh.

Phạm Nguyện cả giận:

- Đường cùng Trịnh đều là thần tử của nhà Tùy, còn các ngươi đều là bọn giặc giết chẳng bao giờ hết ở phía bắc, thì hãy lo giữ lấy cương giới, sao lại dám đem quân giúp kẻ khác đánh nhau?

Khả hãn cũng không vừa:

- Thằng vua của các ngươi là một đứa bán muối lậu, lôi kéo được bọn giặc cướp các ngươi, thử hỏi làm gì nên chuyện mà khua môi múa mép?

Binh lính của Phạm Nguyện, quả đã từng là giặc cướp, nghe Khả hãn nhắc đến tội cũ, đứa nào đứa ấy nghiến răng trợn mắt, cứ xông vào đám lính Khả hãn mà đâm chém, nên bọn này chỉ còn cách tìm đường chạy trốn.

Khả hãn trong lúc nguy cấp, may kịp có hậu đội của Hoa Mộc Lan đến kịp. Mộc Lan dẫn sĩ tốt vào giữa trận, cứu được Khả hãn, tập hợp người ngựa, lệnh cho toán quân bản bộ của mình, hạ ngay xuyên vân pháo trên lưng xuống, nhất tề nổ một loạt. Phạm Nguyện thấy pháo lợi hại, lập tức rút lui, Mộc Lan dẫn quân đuổi theo, không kịp nhận ra vô số nữ binh, tay cầm mộc, tay cầm kiếm, người ngựa như dưới đất chui lên, như hoa rơi, như lá rụng, như ong bay, như bướm lượn. Mộc Lan vội lệnh cho quân sĩ rút lui, nhưng đội nữ binh đã đến ngay trước ngựa. Mộc Lan ngồi trên ngựa, bị ngay một nữ binh tới chém, giữa lúc nghiêng ngửa thì lại bị lính nhà Hạ dùng câu liêm, kéo xuống ngựa. Một đại tướng cao lớn tới cứu, nhưng nghe tiếng dây cung, một viên kim hoàn đạn, bắn trúng ngay yểm tâm kính của viên tướng vỡ nát, trong lúc vội vàng, nghiêng người xuống tránh, cũng bị quân Hạ bắt trói lại nốt. Quân Bắc bị mất hai tướng, liền quay ngựa bỏ chạy.

Đậu Tuyến Nương cho dẫn Mộc Lan cùng viên tướng kia đến. Lúc này trời đã về tây, tiền đội đã đóng trại, Tuyến Nương cũng ra lệnh dừng ngựa, tất cả nổi lửa, nấu ăn. Tuyến Nương nghĩ: "Hai tên tù Hung nô mới bắt được, giữ lại trại này có lẽ không yên?". Liền gọi thủ hạ, giải vào trướng. Nữ binh vâng lệnh, giải cả hai vào. Một nữ binh thấy Mộc Lan có vẻ tuấn tú, liền lấy làm thương hại, khuyên rằng:

- Công chúa ta quân pháp rất nghiêm, hãy đối đáp cho cẩn thận.

Mộc Lan như không nghe thấy, lặng lẽ bước theo vào trướng, Công chúa ngồi trên cao, nữ binh quát:

- Hai tên tù quỳ xuống!

Người tù kia vẫn đứng, quắc mắt nhìn, Tuyến Nương nhìn Mộc Lan rồi hỏi:

- Ngươi trông mặt mày sáng sủa, tên họ là gì, xem tướng mạo đường đường, tất không chịu làm kẻ dưới mãi. Nếu ngươi chịu hàng phụ hoàng, ta sẽ cho ngươi làm gia tướng.

Mộc Lan đáp:

- Hàng thì hàng thôi, nhưng cha mẹ ta đều ở phương bắc, hãy thả cho ta về.thu xếp gia quyến yên ổn, ta sẽ quay lại tận lực, tận tâm thờ chủ mới.

Tuyến Nương giận dữ quát:

- Phường thối tha, ngươi hàng thì hàng, không hàng thì chém đầu hà tất phải múa lưỡi.

Mộc Lan tiếp:

- Ta hàng công chúa, công chúa là đàn bà con gái, thì cũng chẳng lấy gì làm nhục. Còn nếu công chúa định giết ta, ta cũng là con gái, chẳng lấy đó làm vinh được đâu!

Tuyến Nương nói:

- Khó mà bảo ngươi là đàn ông hay đàn bà!

Mộc Lan đáp:

- Đúng như thế!

Công chúa bèn sai bọn nữ binh:

- Hai người hãy dẫn tên tù này ra phía sau khám nghiệm xem sao!

Hai nữ binh kéo Mộc Lan vào phía sau, Tuyến Nương hỏi tiếp người tù kia:

- Ngươi có điều gì hãy khai ra?

Người này đáp:

- Có công chúa ở trên, ta không phải con gái, mà là đàn ông, các người chẳng dung nổi ta đâu. Nếu công chúa thả ta ra, hoặc giả sau này gặp lại, ta sẽ báo ơn thật xứng đáng.

Công chúa nghe nói thế, nổi giận:

- Thằng giặc Hung nô này ăn nói hồ đồ thật, hãy đem ra chém quách cho ta!

Năm sáu nữ binh túm lại, kéo người này đi, người này gào lớn:

- Lão Tề này dẫu có bị giết cũng chẳng sợ, chỉ ân hận là phụ mất sự ủy thác của La tiểu tướng, chẳng được cùng Tôn An Tổ gặp nhau.

Công chúa nghe nói thế, liền gọi ngay lại, hỏi:

- Vừa rồi ngươi nói gì?

Người này đáp:

- Ta không nói gì cả!

Công chúa vặn:

- Ta vừa nghe rõ ràng, là "chẳng được cùng Tôn An Tổ gặp nhau” là gì? Lại còn "phụ mất sự ủy thác của La tiểu tướng" nào nữa?

Người này lại đáp:

- Tôn An Tổ thì chỉ có một, hiện đang làm tướng cho phụ hoàng công chúa. Ngoài ra còn có người nào nữa đâu?

Tuyến Nương liền sai cởi trói, ban cho ngồi, hỏi:

- Túc hạ tên họ là gì? Quen biết ra sao với Tôn Tư mã chúng tôi?

Người này đáp:

- Tiểu nhân họ Tề, hiệu Quốc Viễn, người Sơn Tây, cùng với phụ hoàng công chúa cũng có quen biết, còn với Tôn Tư mã vốn là bạn thân, năm ngoái có nhận được thư của Tôn Tư mã, mời hai anh em chúng tôi tới cùng làm tướng, vì tiểu nhân có việc nên chưa đến được.

Thì ra Tề Quốc Viễn cùng Lý Như Khuê, nhân chuyện Lý Mật giết Địch Nhượng, bèn bỏ đi tìm Sài Tự Xương, gặp ngay lúc Lý Uyên khởi sự, Tự Xương bèn lưu hai người lại, làm Hộ quân hiệu vệ Đoàn huyện sứ. Tự Xương lại đem theo cả hai, đi đánh chiếm được khá nhiều quận huyện cho nhà Đường. Tự Xương tâu lên vua Đường, vua Đường phong cho làm Hộ quân hiệu úy, đóng quân ở Ngạc Huyện. Nhân ngày lễ ngũ tuần của U Châu thứ sử Trương Công Cẩn, vốn là bạn "bát bái chi giao" của Tự Xương, nên mới phiền Quốc Viễn đi một chuyến. Lại gặp công tử La Thành, con trai tổng quản U Châu La Nghệ, hay tới dinh thứ sử Trương Công Cẩn chơi, biết Quốc Viễn quen thân với Thúc Bảo, Hùng Tín, nên mới viết thư, nhờ Quốc Viễn gửi cho Thúc Bảo. Tuyến Nương nghe kể thế liền nói:

- Nếu túc hạ là bạn thân với Tôn Tư mã chúng tôi, lại có quen biết phụ hoàng, ở chỗ chúng tôi hiện đang thiếu nhiều nhân tài, để ta về tâu với phụ hoàng, mời túc hạ cùng giúp một tay là hay hơn cả. Nhưng vừa rồi túc hạ còn nhắc tới cả La tiểu tướng nữa là ai thế?

Quốc Viễn đáp:

- Đó là con trai tổng quản U Châu La Nghệ, La công tử cùng với Tần Thúc Bảo ở Sơn Đông vốn là anh em con cô con cậu, La Thành có chuyện nhân duyên khó khăn nào đó, nên muốn nhờ Thúc Bảo nói với Hùng Tín dàn xếp hộ cho, nên mới nhờ tiểu nhân đi gặp. Không ngờ giữa đường gặp Yết Bà Na bị Khả hãn lôi kéo, trang bị giáp trụ, cho nên mới tham gia vào vụ vừa rồi.

Tuyết Nương nghĩ ngợi một hồi rồi nói:

- Không thể có chuyện thế được, chẳng thể vì chuyện nhân duyên của riêng mình, mà bắt bạn bè đi hàng nghìn dặm như thế.

Quốc Viễn đáp:

- Họ Tề này cả đời chưa từng nói dối bao giờ, hiện còn giữ thư của La tiểu tướng kia!

Rồi đứng dậy, cởi chiến bào, trước ngực lấy ra một cái túi nhỏ, bên ngoài gói bằng giấy dầu, bên trong là thư, đưa cho Tuyến Nương.

Tuyến Nương sai tả hữu lấy xem kỹ, bao ngoài bằng giấy hồng, trên viết hai.hàng chữ lớn: "Họ La ở Soái phủ U Châu, gửi cho Tần Tướng quân, tự Thúc Bảo ở Tế Châu, Sơn Đông”. Tuyến Nương liền cầm thư giắt vào hài, rồi gọi tả hữu:

- Lính canh bên ngoài vào đây!

Bốn lính canh bên ngoài có mặt. Tuyến Nương sai:

- Các ngươi đốt đèn, đưa Tề đại nhân đây đến trại Phạm soái phụ, nói rằng theo lệnh ta, hãy tiếp đãi đại nhân cẩn thận, không được coi thường.

Lại nói với Quốc Viễn:

- Thư của La tiểu tướng, ta tạm giữ ở đây, đợi lúc nào túc hạ đã gặp Tôn Tư mã rồi, sẽ hoàn lại.

Quốc Viễn cũng chẳng còn cách nào khác, đành theo lính canh đến chỗ Phạm Nguyện.

Tuyến Nương thấy Quốc Viễn đã đi khỏi, đang định đứng dậy, một nữ binh vào quỳ thưa:

- Gã mặt trắng vừa rồi đã khám nghiệm chu đáo: đúng là con gái, không phải nói bậy.

Tuyến Nương lệnh:

- Dẫn vào trong này!

Ngồi xuống, Tuyến Nương hỏi:

- Nếu ngươi là con gái, tên họ là gì? Làm sao lại tòng quân, hãy khai cho thực.

Mộc Lan khóc, thưa:

- Thiếp họ Hoa, tên Mộc Lan, vì phụ thân tuổi cao, lại không có anh trai, dưới chỉ còn mấy em vừa nhỏ vừa yếu, phụ thân đi lính, thì chẳng còn ai coi sóc việc nhà. Thiếp nghĩ rằng đàn ông làm được việc trung thần hiếu tử, thì đàn bà cũng làm được. Vì thế thiếp giả trang đi lính theo lệnh vua thay cho thân phụ, dẫu trong quân chẳng ai biết, nhưng lòng cũng lấy làm hổ thẹn, xin công chúa lượng tình tha lỗi.

Nói xong không ngăn nổi hai hàng nước mắt tuôn ra như suối.

Tuyến Nương thấy thế, cũng cảm động mà rằng:

- Nếu thế thì rõ ràng là bậc hiếu nữ, không ngờ đất Bắc là nơi ngược ngạo, phóng túng, mà lại sinh ra được bậc nhi nữ đại hiếu như vậy Thật là rạng vẻ anh thư, ta cũng thật lòng kính ái?

Tuyến Nương lấy lễ chủ khách ra đãi, Mộc Lan từ tốn không dám.

- Công chúa vốn cành vàng lá ngọc, thiếp là phận áo vải thô, ngu muội, may được rộng tha, đã thật không ngờ, đâu dám cùng ngồi hàng với công chúa.

Tuyến Nương thở dài:

- Danh tước là cái dễ kiếm, thuần hiếu mới là sự khó. Ta cũng giận là thân con gái, không thể cùng mặt trời, mặt trăng tỏa sáng, không ngờ ngươi cũng có lòng như vậy. Nay ta đang thiếu một người bạn trong thuê phòng, cũng muốn kết chị em với ngươi, vinh nhục cùng hưởng, liệu có nên chăng?

Mộc Lan đáp:

- Điều này thì thật thiếp không dám nhận?

Tuyến Nương nói:

- Ý ta đã quyết. Ngươi chẳng nên quá khiêm nhường. Không biết tuổi tác ra sao đây?

Mộc Lan thưa:

- Kẻ hèn này mười bảy tuổi!

Tuyến Nương tiếp:

- Ta hơn ba tuổi, thôi đành ngồi ghế trên vậy!

Cả hai cùng lạy trời đất bốn lạy, rồi quay mặt lại, cùng lạy nhau bốn lạy nữa. Vì ở trong quân chẳng có gì để bày tiệc dọn yến, đành phải ăn cơm tối, rồi Tuyến Nương đưa Mộc Lan vào trong trướng cùng nghỉ, Tuyến Nương hỏi:

- Hiền muội đã lấy chồng chưa?

Mộc Lan lắc đầu:

- Ở nơi hoang dã góc trời, thực chẳng có ai. Thiếp tuy được hiền thư giờ yêu quý thế này, nhưng mai kia về, còn có phò mã nữa, rồi không biết hiền thư để thiếp vào đâu?

Tuyến Nương nghe thế, hai hàng lông mày chau lại, yên lặng không nói, Mộc Lan hỏi:

- Hiền thư đã quá tuổi đào non, mà vẫn chưa chịu kén khách đông sàng, sợ rằng quá tuổi hảo cầu chăng? (l)

1 Bài "Quan thư" trong "Kinh Thi": Yểu điệu thục nữ; Quân tử hảo cầu. (Khách thục nữ yểu điệu, Đẹp đôi cùng người quân tử).

Tuyến Nương đáp:

- Mẫu hậu vốn là mẹ kế, tuy rất hiền, nhưng phải lo việc nước. Phụ vương thì đánh đông dẹp bắc, lo chuyện binh đao, chẳng có lúc nào yên mà nghĩ tới chuyện này.

Mộc Lan thưa:

- Ở trên đời này những việc đáng làm cũng nhiều, phải đâu chỉ có riêng chuyện chăn gối thôi đâu!

Thêm một vài câu chuyện phiếm khác. Mộc Lan đã ngủ kỹ, Tuyến Nương nhẹ nhàng ngồi dậy, lấy thư của La Thành trong hài ra, lòng nghĩ: "Vừa rồi họ Tề nói La Tiểu tướng có chuyện nhân duyên gì đấy, nên phải viết thư nhờ Thúc Bảo, chẳng biết là với người nào vậy. Ta phải mở ra xem, La công tử viết những gì trong này?". Tuyến Nương cầm một con dao nhỏ, nhẹ nhàng mở dấu niêm phong, lấy thư ra, đặt trên án, đọc kỹ. Phía trên chỉ là những lời thăm hỏi thông thường, đọc đến phía dưới, thì hai hàng nước mắt chan hòa: "Trời ơi! Thì ra Dương Nghĩa Thần chết rồi! Ta cứ nghĩ tại sao La lang không đến nhờ Nghĩa Thần mà lại phải nhờ Thúc Bảo mãi". Xem hết từ đầu chí cuối, không ngăn nổi thở than: "Trời ơi! La lang! La lang! La lang vẫn một lòng nghĩ tới ta, mà không chịu nghĩ đến gia thất. Thật là chuyện của ta thật khó khăn quá chừng. Nếu như Dương lão tướng chưa mất, thì may ra phụ hoàng còn nghe lời. Nay họ Dương đã qua đời, dẫu cho Đơn viên ngoại có thư đến nữa, thì chắc gì phụ hoàng đã nghe. Ta mà còn mẫu thân, còn có người mà nương dựa. Nay tuy Tào Hậu hiền minh như thế, nhưng là thân con gái, ta làm sao mà mở miệng được để nói những điều này!”

Nghĩ đi nghĩ lại, chẳng thấy cách nào, không ngăn được, bèn nức nở một hồi, lại than: "Thôi rồi! Nhân duyên của ta nay chỉ đành chờ kiếp sau vậy, nhưng ta lòng nào mà làm lỡ tuổi thanh xuân của La công tử, có lẽ ta nên làm thế này: dạo trước ta ở Nhị Hiền trang, được tiểu thư Ái Liên nhà Đơn viên ngoại, rất là yêu thương, lại đã cùng ta kết nghĩa chị em. Nay La công tử đã viết thư nhờ Thúc Bảo, chi bằng sửa mấy chữ trong thư, nói ra là nhờ Thúc Bảo cầu hôn với Đơn tiểu thư, Đơn viên ngoại nhất định sẽ bằng lòng, một là báo đáp được tấm lòng mong mỏi của ta với Đơn tiểu thư, hai là gầy dựng được cho La lang. Phải chăng là cả hai đều tốt đẹp không?". Nghĩ ngợi xong xuôi, bèn gọi viên nữ thư dậy, thay thư cũ bằng một thư khác nói rõ những ý đã định trên, rồi theo cũ mà niêm phong cẩn thận, xong xuôi, lại bỏ bao vào hài của mình.

Chẳng bao lâu, gà đã gáy sáng, Mộc Lan tỉnh giấc, chải đầu rửa mặt, Tuyến Nương liền cho Mộc Lan trang phục như mình, cùng quân sĩ ăn buổi sáng. Đang định nhổ trại lên đường, thì thấy ba bốn kỵ mã đến thưa:

- Chúa công có lệnh, đến mời công chúa lập tức về triều, bởi Vương Thế Sung đang bị nhà Đường đem quân tới đánh, nên tới cứu viện. Chúa công định thân chinh kéo quân đi, nên giục chúng hạ qua báo ngay cùng công chúa!

Tuyến Nương đáp:

- Ta biết rồi! Các ngươi cứ quay ngay về!

Lại gọi mấy tên lính đêm qua dẫn Quốc Viễn đi lấy phong thư ở gót hài, cùng hai mươi lạng bạc, đưa cho bọn này, dặn kỹ:

- Đây là thư cùng hai mươi lạng bạc, hãy mang sang trại Phạm đại nhân, giao tận tay vị họ Tề tối hôm qua các người đã dẫn tới. Nói rõ rằng vì trong nước có việc, không thể gặp lại!

Bọn này vâng lệnh, đi ngay. Tuyến Nương ra lệnh cho đội nữ binh làm tiền đội, Phạm Nguyện làm hậu đội, quay ngay về. Quốc Viễn cũng biết rõ nhà Hạ sắp xuất binh, nên cũng không tìm Tôn An Tổ nữa, mà quay đến chỗ Thúc Bảo.

Chính là:

Tướng quân đừng xuống ngựa

Ai nấy cứ lên đường.

Lại nói Thúc Bảo cùng Mậu Công diệt xong Vũ Chu, thu phục được Uất Trì Cung, tiếng tăm càng lừng lẫy. Mậu Công nói với Tần Vương:

- Thế Sung từ ngày diệt được Ngụy Công, được thêm rất nhiều đất đai, người ngựa, thanh thế hơn hẳn trước kia. Nay điện hạ nên thừa thế mà trừ ngay đi, kẻo càng để lâu càng khó diệt. Trước tiên hãy sai các tướng triệt dần nanh vuốt xung quanh, cắt dần đất đai, để tuyệt nguồn lương thực, khiến cho bốn phía trơ trọi, không nơi cứu ứng, bên trong một mình khó mà cầm cự, mới dần dần thắng được. Cũng giống như người ta đánh con giải lớn vậy, trước hãy lo chặt đứt tám cái chân, lúc này dẫu còn hai càng lợi hại, cũng chẳng thể ngang dọc được nữa vậy!

Tần Vương khen hay, giao binh phù, sổ sách cho Mậu Công điều hành việc quân. Mậu Công liền sai tổng quản Sử Vạn Bảo, từ huyện Nghi Dương, đánh chiếm lấy một giải Long Môn. Lại lệnh cho tướng quân Lưu Đức Uy, từ Thái Hằng Sơn, ra lấy kỳ được Hà Nội (1). Còn Thượng Cốc Công, Vương Quân Khuyến, từ Lạc Khẩu phải bắt được đường tiếp lương của Thế Sung. Tổng quản Hoàng Quân Hán, kéo từ Hồ Ân ra đánh cho được Lạc Thành, Đại tướng Khuất Đột Thông, Đậu Quỹ mai phục quân ở các nơi hiểm yếu, sẵn sàng tiếp ứng cho những chỗ nguy cấp. Vương Bộ cùng Trình Giảo Kim, Vưu Tuấn Đạt, Liên Cự Chân tới Lê Dương, khôi phục lại những đất đai của nhà Ngụy. La Sĩ Tín cùng Tầm Tương đi lấy vùng Thiên Kim Bảo, Hổ Lao. Mậu Công với Tần Vương, Thúc Bảo, Uất Trì Cung về Hà Nam, hội quân Lý Tĩnh ở Hồng Câu. Chư tướng vâng mệnh nguyên soái, kéo quân đi.

1 Không phải Hà Nội của Việt Nam, mà là tên một vùng đất nhỏ, từ đời Tam Quốc đã có, gần như nằm giữa Trung Nguyên.

Lúc này Lý Tĩnh đã đánh bại Chu Xán, Xán thế cô lực tận, kiếm ngay vài người xấu số béo tốt ở Cúc Trạch, mổ thịt ăn uống vài ngày, rồi cùng với mấy lính kỵ, trốn về Hà Nam, theo hàng Thế sung. Lý Tĩnh đem binh, đóng giữ ngay ở cửa Hồng Câu, chờ đại quân Tần Vương.

Chưa đầy một tháng, Tần Vương đã tới, hai cánh quân gặp nhau, Tần Vương nói với Lý Tĩnh:

- Chu Xán như con sói dữ, nhờ tài năng của khanh, đã thua chạy. Không hiểu thanh thế của Thế Sung thật hư ra sao?

Lý Tĩnh thưa:

- Thần đã sai người dò xét kỹ càng, bọn chúng đã biết Đại Đường sẽ kéo quân chinh phạt, nên các nơi đều được giao cho anh em cháu chắt trong họ phòng bị nghiêm ngặt. Ngụy Vương Vương Hoằng Liệt giữ Tương Dương, Kính Vương Vương Hành Bận đóng ở Hổ Lao, Tống Vương Vương Thái nằm vùng Trần Châu; Tần Vương Vương Thế Vĩ giữ Bảo Thành, Việt Vương Vương Quân Độ đóng Đông Thành, Hán Vương Vương Huyền Nhự lập quân doanh ở Hàm Gia, Lỗ Vương Vương Đạo Ngự ở Diệu Nghi thành. Thật đến nỗi một giọt nước cũng không lọt, ngày đêm đều cảnh giác tuần thám rất nghiêm.

Tần Vương cười:

- Ngu ngốc thay cho Thế Sung, đâu có chuyện công nghiệp của cả đất nước, một nhà độc chiếm được sao. Chỉ có con cháu mới là bậc hiền tài thôi sao, ta đã thấy cảnh bại vong của chúng ngay trước rồi.

Tần Vương đôn đốc tướng sĩ tới Lạc Dương. Thế Sung liền kéo hai vạn người ngựa ra cửa Phương Chủ, hạ trại ngay bên bờ sông Cốc Thủy, đối diện với quân Đường. Quân Đường đóng trại chưa xong, chỉ sợ quần Trịnh sang đánh bất ngờ, phần nhiều đều hoảng sợ. Tần Vương thường đã quen lấy ít địch nhiều, lấy kế để thắng, thì chẳng ngại gì.

- Quân giặc kết trại gần bờ sông, thế là có ý sợ ta tấn công, rõ là thấy chúng ta hoảng sợ rồi vậy.

Liền sai Thúc Bảo, Uất Trì Cung đánh thẳng vào tiền quân Thế Sung, còn Tần Vương thì dẫn bọn Giảo Kim, Sĩ Tín, Khẩu Hằng Cung, Đoàn Chí Huyền, lặng lẽ đánh vào phía sau Thế Sung. Khoảng vài nghìn kỵ binh, xông vào trước chém giết. Quân Trịnh thấy thế, liền vây kín bọn kỵ binh lại. Sử Nhạc, Vương Thưởng, tuy có giết được vài trăm lính tráng, nhưng cả bọn này cũng khó lòng thoát khỏi vòng vây. Giữa lúc ham chiến, một phát tên bắn tới, làm Tần Vương ngã ngay xuống ngựa, hai tướng Trịnh trong trận liều chết giơ cao thương xông tới. Sử Nhạc thấy thế, hét to một tiếng, chém ngay một tướng, rồi đoạt lấy ngựa cho Tần Vương cưỡi. Viên tướng còn lại, bị Vương Thưởng bắn cho một tên, trúng ngay cổ họng, ngã xuống ngựa.

Phía trước Uất Trì Cung, Thúc Bảo đánh giết đến ba bốn giờ, Thế Sung chống đỡ không nổi, đành phải rút lui, bị quân nhà Đường đuổi sát tận chân thành, chém được đến sáu bảy nghìn thủ cấp rồi mới quay trở lại.

Ngày hôm sau, Tần Vương cùng Mậu Công ra ngoài trại quan sát thấy hai ba trăm dân chúng, đều mang cung đeo tên, có cả võng lưới mà đi. Tần Vương sai thủ hạ gọi lại rồi hỏi:

- Các ngươi đi đâu, làm gì thế này?

Một người quỳ thưa:

- Người ta đồn rằng, ở trên lăng Ngụy Tuyên Vũ, hôm qua có một con chim phượng bay tới, đậu trên cây cao bên lăng, vì vậy dân đi săn chúng tôi đều lên cố bắt cho được.

Tần Vương lại hỏi:

- Đây đi lăng Ngụy Tuyên xa gần?

Người này thưa:

- Chỉ khoảng gần hai mươi dặm là cùng.

Tần Vương phán:

- Các ngươi hãy dẫn ta đi xem sao, nếu đúng vậy, ta sẽ trọng thưởng!

Mậu Công can:

- Không được đâu, làng Ngụy Tuyên Vũ ngay gần sau hậu trại của Thế Sung, nếu có mai phục thì làm thế nào?

- Thế Sung thua mấy lần, trong lòng hoảng sợ, chẳng dám ra đâu!

Liền nai nịt đầy đủ, dẫn theo năm trăm lính kỵ, ra khỏi trại, đi hết con đường mòn có cây che lớn, thì thấy có một đám đất bằng phẳng, rộng rãi, bốn xung quanh là núi rừng, bên trái là ngọn Phi Lai, bên phải có khe Bộc Giản, chim lạ thú quý đều thấy đủ mặt, cũng chính là nơi còn di tích nhà đá từ thời Hoàng Đế, sau này Ngụy Tuyên Đế làm Hoàng Lăng ở đây. Tần Vương nhìn khắp bốn phía, trầm trồ khen ngợi không ngớt. Bỗng thấy phường săn gào thét:

- Chẳng phải là chim phượng đang bay tới kia là gì?

Tần Vương nhìn kỹ, thấy một con chim lớn, theo sau là bảy tám chục chim nhỏ, đậu ngay trên ngọn cây lớn. Con chim lớn này cổ dài, đầu có mào lớn, lông năm màu sặc sỡ, lóng lánh sáng ngời, trông rất kỳ lạ. Tần Vương phán:

- Đấy là chim loan rừng ở hải ngoại, ai nấy nhầm là chim thiêng. (l)

1 Con Chim đực gọi là chim Phượng, con cái gọi là Hoàng. Giống chim của thần thoại cổ Trung Quốc, người ta cho chim này mà ra đời, là điềm xuất hiện bậc thánh chúa! (Từ điển Hán Việt - Thiều Chửu).

Phường săn đang định giăng lưới, thì lại thấy một người lấy tay chỉ:

- Phía kia thấy binh mã kéo ra. Nguy to rồi!

Ai nấy đều vội vàng bỏ chạy. Mậu Công cũng giục Tần Vương quay về. Tần Vương vội rút một mũi tên, giương cung hướng con chim lạ, bắn trúng ngay cánh, con chim liền mang cả mũi tên, bay vào trong hẻm núi.

Tần Vương ruổi ngựa theo, thấy bên ngoài toàn là cờ hiệu quân nhà Trịnh, lại có một tướng, phi ngựa như bay lên, miệng hét lớn:

- Lý Thế Dân! Ta là đại tướng Yến Doãn nước Trịnh, tới bắt ngươi đây?

Tần Vương thấy thế, cho ngựa phi nhanh vào hẻm núi, dừng lại, bắn một phát tên, trúng cổ họng Yến Doãn ngã ngay xuống ngựa.

Nhìn tìm con chim lạ, vẫn thấy đậu ở cây đối diện bên khe núi rỉa lông cánh. Tần Vương thấy đoạn khe trước mặt ngăn đường, phía sau là binh mã quân Trịnh, Mậu Công thì lạc ở phía sau, chim loan lạ thì vẫn ở bên bờ kia cất tiếng hót, như kêu như gọi nhảy qua khe. Khe này đã sâu lại rộng có đến ba bốn trượng, thế mà lạ thay, Tần Vương vẫn vượt qua được. Chim loan lạ thấy Tần Vương tới, lại bay đi mấy chục bộ, đậu trên một cành cao. Tần Vương nghe bờ bên kia trống nổi rầm trời, trong lòng cũng hoảng sợ, nhìn lên chim loan lạ mà khấn:

- Linh điểu, linh điểu! Linh điểu mà cứu được ta thoát khỏi nạn này, thì hãy quay về ta mà hót ba tiếng!

Chim liền quay ngay về phía Tần Vương, kêu đủ ba tiếng. Tần Vương nhìn thấy bờ khe đá núi gập ghềnh, liền xuống ngựa, buộc vào gốc cây, rồi theo đường chim bay mà đạp cỏ, rẽ cành đi vào núi. Trèo lên đến đỉnh, nhìn sang phía bờ xa thấy một viên tướng, sát khí đằng đằng, đang ruổi ngựa theo. Tần Vương nhận ra Đơn Hùng Tín, theo sau lại có một tướng khác, cũng cưỡi ngựa gần kề, thì ra là Mậu Công. Đang ngây người ra nhìn, lại nghe chim loan kêu một tiếng, Tần Vương vội quay đi, nghĩ vội: "Linh điểu không bay mà vẫn hót, phía này nhất định có lối ra!" Liền cứ theo chim mà chạy. Thấy ngay trước mặt, một tòa nhà bằng đá, ngoài cửa có một nhà sư đứng chờ, diện mạo sáng sủa, phong thái trang nghiêm, giơ tay vẫy linh điểu một cái, chim lập tức chui vào ống tay áo nhà sư, nhà sư yên lặng quay vào trong nhà đá. Tần Vương lấy làm lạ, cũng theo vào, thấy nhà sư đang ngồi xếp bằng. Tần Vương hỏi:

- Sư trưởng? Vừa rồi sư trưởng bắt được linh điểu, xin sư trưởng cho xem!

Nhà sư đáp:

- Linh điểu biết quân vương lúc ấy đang gặp nạn, nên từ cõi thiêng bay tới, quân vương muốn xem hay sao?

Liền bắt từ ống tay áo ra con chim loan nọ, cánh chim vẫn thấy còn mũi tên. Phút chốc bỗng biến thành con chim anh vũ màu trắng, nhà sư liền rút ngay mũi tên ra, đưa giả cho Tần Vương:

- Xin giả mũi tên này cho quân vương!

Rồi tung lên, chim bay mất, vào tầng không cao thẳm. Tần Vương lấy tên bỏ vào ống, biết là bậc thánh tăng, vội hỏi:

- Ta gặp nạn này liệu có thoát được không?

Nhà sư đáp:

- Sao nạn tinh chỉ trong khoảnh khắc, quân vương hãy tránh ngay sau lưng bần tăng, bần tăng sẽ có cách lui được nạn này.

Tần Vương liền theo lời trốn kỹ. Nhà sư tay ấn quyết, miệng niệm chú, rồi thấy từ miệng phóng ra một đạo bạch quang, che kín lấy khe núi.

Tướng nhà Trịnh Đơn Hùng Tín biết rất rõ vùng khe núi này có tên là Ngũ Hổ Cốc, dòng khe này là Đoạn Quỷ giản, không có đường ra. Hùng Tín thấy Yến Doãn phi ngựa phía trước, sợ Yến Doãn cướp mất công đầu, vội phi nhanh về phía khe núi, từ xa một con ngựa không người, vội phi lại, đã thấy Yến Doãn nằm chết vì mũi tên trúng cổ họng. Hùng Tín giận dữ nghĩ thầm: "Không giết được thằng giặc này, báo thù cho Yến Doãn, không đáng bậc hảo hán!" Thúc ngựa vào khe tìm, bỗng nghe từ phía sau có người cưỡi ngựa đuổi theo, lớn tiếng gọi.

Mậu Công đuổi kịp, níu vạt áo Hùng Tín mà xin:

- Từ ngày xa nhau đến giờ Đơn nhị ca vẫn được bình yên, trước kia ở chỗ Ngụy Công ngày đêm cùng nương tựa lẫn nhau, may được dạy dỗ nhiều, thật cảm ơn sâu. Hôm nay mới gặp, đang có điều muốn bàn, xin đừng quá bức bách chủ ta!

Hùng Tín đáp:

- Thuở trước cùng ngài sum họp một nơi, thì là anh em, nay ai thờ chủ ấy, tức là thù địch. Hùng Tín này thề diệt được Thế Dân, báo thù cho vong linh tiên huynh, cũng là để trọn đạo thần tử.

Mậu Công nói:

- Nhị ca không nhớ thuở trước thắp hương thề nguyền sao? Chủ của ta cũng là chủ của Nhị ca, Nhị ca sao bất tình đến thế?

Hùng Tín đáp:

- Đây là việc quốc gia, không phải là việc riêng của Hùng Tín. Lúc này mà Hùng Tín không nỡ giơ đao lên chém ngài, cũng bởi vì lời thề nguyền xưa vậy. Ngài hà tất phải nhiều lời!

Rồi rút đao bên mình, cắt vạt áo dài, gia roi đuổi theo tìm Tần Vương. Mậu Công thấy tình thế nguy cấp, vội phi ngựa như bay trở lại để gọi các tướng, báo tin Tần Vương gặp nạn.

Lúc này Uất Trì Kính Đức, đang ở khuỷu sông Lạc Thủy tắm cho ngựa, bỗng thấy phía đông bắc một người một ngựa phi tới. Uất Trì Cung nhận ra Mậu Công đang hét lớn:

- Chúa công bị tướng Trịnh Đơn Hùng Tín đuổi theo vào Ngũ Hổ Cốc, mau mau chạy cứu ngay!

Uất Trì Cung nghe nói, chẳng kịp mặc áo, đang từ dưới nước, mình trần trùng trục, nhảy lên ngựa không yên, cầm roi phi thẳng một mạch. Gặp đúng lúc Hùng Tín đang sục bốn phía mà chẳng thấy tung tích, nhận ra bên khe, vết chân còn in rõ trên bùn, nước khe vẫn còn đục, lại nghe tiếng ngựa ngọc tông hý vang, liền vẫn ngồi trên lưng ngựa, nhảy ngay qua khe để tìm, cũng vẫn chẳng thấy, nhận ra con ngọc tông vẫn buộc dưới gốc cây. Hùng Tín liền xuống ngựa, trèo lên đỉnh núi, lại tòa nhà đá xem xét, bỗng nhận ra một con hổ lớn, vằn loang lổ dữ tợn, ngồi ngay trước cửa, thấy mặt Hùng Tín, liền gầm một tiếng dài, làm cả khe núi vang động ầm ầm. Hùng Tín thất kinh, thầm nghĩ: “Thằng oắt con này chắc đã bị con hổ này xé xác rồi, có khi rơi xuống khe này chết quách cũng nên. Ta thử đi xuống phía dưới tìm xem!". Rồi nhảy lên ngựa của mình, lại dắt theo ngựa của Tần Vương, ra phía cửa khe. Bên sườn núi, một viên tướng, mặt như sắt luyện, tiếng nghe như sấm dậy:

- Không được hại chủ ta? Uất Trì Kính Đức đây!

Rồi cũng nhảy qua khe, Hùng Tín vội thả ngay ngựa Tần Vương, giơ thương để đâm, Uất Trì Cung nghiêng mình tránh được, giơ roi quật xuống, trúng ngay cánh tay Hùng Tín. Uất Trì Cung để ngang roi sắt của mình trên ngựa, rồi sấn lại ngay trước mặt, giằng lấy cây thương của Hùng Tín. Hùng Tín tuy khỏe, nhưng sao đương nổi sức thần của Uất Trì Cung, giằng co một lát, thì bị Uất Trì Cung cướp mất thương. Hùng Tín đành phải lui lại phía sau, nhảy qua khe núi mà đi.

Lại nói Tần Vương, nấp phía sau lưng nhà sư trong chùa đá, thấy nhà sư làm phép thần thông, lại thấy Hùng Tín đến ngay trước cửa, dòm ngó khắp nơi, nhưng không hiểu sao không dám tiến vào.

Bên tai chỉ nghe một tiếng thét kinh thiên động địa, nhà sư chắp hai tay tụng niệm:

- A di đà Phật! Họa tinh đã đi rồi, cứu binh đã tới. Quân vương ra động được rồi!

Tần Vương đứng dậy cảm tạ:

- Ơn thánh tăng pháp lực thần thông, cứu được ta, ta về Thái Nguyên, xin sai quan nha tới đón về cung dưỡng. Nhưng không rõ pháp hiệu thánh tăng là gì?

Nhà sư thưa:

- Bần tăng là Đường Tam Tạng, chẳng dám nói gì chuyện cung dưỡng, đã có thần linh trông coi cho rồi, chỉ xin quân vương làm một vị hoàng đế sáng suốt, đem lại thái bình là đủ rồi. Bần tăng có một bài kệ bốn câu, xin quân vương nhớ kỹ cho.

Nói rồi đọc:

Kiến nghiệp giữ lấy đức

Giúp đời tròn chữ hiếu

Hai hiếu e khó toàn

Gốc nguồn nên giữ trước.

Đọc xong, nhà sư lại ngồi nhắm mắt, nhập định như cũ. Tần Vương theo đường cũ xuống núi, men theo khe, tìm ra con ngọc tông, nhảy lên yên, thì thấy Uất Trì Cung phi ngựa tới, thưa lớn:

- May rồi! Điện hạ không bị hoảng hồn chứ?

Tần Vương đáp:

- Không đâu! Còn thằng giặc Hùng Tín đâu?

Uất Trì Cung thua:

- Bị thần giằng mất thương, chạy ra cửa khe mất rồi. Nơi này không nên đứng lâu, điện hạ mau cùng thần ra ngay thôi!

Hai người cưỡi ngựa vượt qua khe, đến thẳng cửa Ngũ Hổ Cốc, gặp tướng Trịnh Phàn Hựu, Trần Tri Lược. Uất Trì Cung chẳng nói một lời mỗi tướng mỗi roi, làm cả hai bị thương, ngã ngựa, Uất Trì Cung mở một đường máu, ra khỏi vòng vây. Thì thấy Thúc Bảo, Mậu Công dẫn các tướng giao chiến với hậu đội của Thế Sung. Kính Đức nói với Lý Tĩnh:

- Ngài hộ vệ điện hạ về trại, để ta giết sạch bọn giặc này!

Rồi xông thẳng vào đám quân Trịnh, đâm chém một hồi. Tướng Trịnh tuy nhiều, nhưng chẳng ai đương nổi Uất Trì Cung, Thúc Bảo, một ngọn roi, hai thanh giản, giết không biết bao nhiêu tướng quân của nhà Trịnh. Uất Trì Cung đang tung hoành giữa trận, bỗng thấy một người đội mũ xung thiên, đeo đai ngọc, mặc mãng bào, ngồi trên mình ngựa, ở trên cao quan sát, liền bỏ ngay đối thủ, giơ cao roi xông tới. Vương Thế Sung hoảng hốt, vội quay ngựa chạy. Uất Trì Cung cùng các tướng, đuổi theo mãi tới chân Tần Thành mới quay về. Mậu Công sai đánh chiêng trống thu quân, vào trại Tần Vương chúc mừng.

Tần Vương cười:

- Nếu không có sức thần của Uất Trì Cung, thì đã bị bọn giặc gây hại rồi!

Rồi sau lấy một tráp vàng, thưởng cho Uất Trì Cung. Từ đó Tần Vương lại càng yêu thương Uất Trì Cung. Thế Sung thấy tướng sĩ nhà Đường lợi hại, cũng không dám ra thành nghênh chiến nữa.

Giằng co mấy ngày, chính lúc Tần Vương cùng các tướng bàn kế phá địch, thì thấy tin báo từ các nơi về như hoa tuyết bay. Tần Vương cùng Mậu Công xem qua, biết Vinh Châu, Biện Châu, Thư Châu, Hoa Châu, đều đã thuộc nhà Đường. Lại còn tổng quản Dương Khánh ở Hiển Châu, cũng đem cả hai mươi lăm phủ huyện về hàng. Úy Châu thứ sử Thời Đức Duệ, cũng đem bảy châu: Kỷ, Hạ, Tùy, Trần, Hứa, Dĩnh, Ngụy ra hàng. Vương Bộ cùng Trình Giảo Kim, cũng có văn thư về báo Doãn Châu, Lê Dương, Thương Thành, đều đã hàng nhà Đường. Chỉ còn Thiên Kim Bảo cùng Hổ Lao, nghe La Sĩ Tín cùng Tầm Tương báo về là vẫn chưa hạ được. Lại còn cả việc đại tướng Khuất Đột Thông, đi tuần thú trên đường, bắt được hai kỵ binh, khai là tướng nhà Trịnh, lẻn đi Lạc Thọ, xin Uất Trì Cung đem binh cứu viện. Mậu Công nói:

- Đất đai nhà Trịnh, nhờ phúc lớn của thiên tử, ba phần đã thu được hai. Chỉ còn Hổ Lao với Thiên Kim Bảo, cùng các huyện yết hầu nữa thôi. Hai vùng này nếu không chiếm được, thì các nơi khác dẫu có chiếm cũng chẳng giữ được. Xin để thần đi một phen.

Liền từ giã Tần Vương, đêm ngày dẫn theo một nghìn lính bản bộ, nhằm Hổ Lao quan mà tiến.

Chính là:

Kinh bang tế thế kiêm văn võ

Cười nói trong quân đủ lược thao.