Trảm Long - Trọn Bộ 4 Tập

Tập 4 - Chương 3: Quỷ Anh Hùng Hồng Môn

Mọi người ruổi ngựa gấp theo đường núi suốt đêm, đến gần đỉnh Phù Dung thì trời đã tảng sáng. Họ tới trước một ngôi làng nhỏ, Hữu Hiên tiên sinh móc trong hốc cây đại thụ ra một mẩu giấy nhỏ, xem xong bèn xé vụn quăng đi, rồi quay lại bảo mọi người: “Quân Thanh tập kết dọc một dải trấn Phù Dung và thác Tây Sơn, có khoảng bốn doanh hai nghìn người, phong tỏa hết bốn phía, hiện giờ không thể cưỡi ngựa xông vào được, song nếu võ công cao cường có thể lần theo các trạm gác, giết lính canh mà lẻn vào, tới mộ tổ nhà họ Hồng xem tình hình ra sao.”

Mọi người đều gật đầu tán thành, An Long Nhi lên tiếng: “Tôi lẻn vào được, Văn thiếu gia và Hữu Hiên tiên sinh cứ đợi ở đây.”

Cố Tư Văn bưng miệng cười: “Ha ha, Long thiếu gia khách khí quá, chi bằng ngươi và đại sư bá ở đây, một mình ta đi xử lý An Thanh Nguyên.”

“Hồng môn là chỗ để giở thói anh hùng à? Đừng nhiều lời nữa, ta đi với các ngươi.” Chòm râu Hữu Hiên tiên sinh hơi vểnh lên: “Râu còn chưa đủ dài mà làm quỷ đầu to gì chứ…” Nói rồi ông bảo hai thanh niên đằng sau: “Tiểu Tứ Tiểu Cửu lại đây, các ngươi đi báo cho quân của Lăng Thập Bát và Khâu Nhị Tẩu chuẩn bị…” Hữu Hiên tiên sinh ghé tai hai người dặn dò một chặp, Tiểu Tứ và Tiểu Cửu nhận lệnh, lập tức chia ra phi ngựa đi báo tin. Cố Tư Văn cũng rỉ tai An Long Nhi: “Ông già ấy tưởng như bây giờ là thời Tam Quốc, còn mình là Gia Cát Lượng không bằng, cứ lén lút thì thào, ra bộ thần bí.”

“Các người lén lút thì thào gì thế!” Hữu Hiên tiên sinh thình lình quát hỏi, giọng sang sảng, khiến An Long Nhi và Cố Tư Văn giật nảy mình.

Cố Tư Văn vội lấp liếm: “Con mót tiểu.” Hữu Hiên tiên sinh nhảy xuống ngựa: “Hai người cùng đi đi, tiểu xong thì buộc ngựa ở đây, chúng ta lẻn vào.”

An Long Nhi ngơ ngác hỏi: “Tôi không mót cũng phải tiểu ư?”

“Phải, trước trận chiến thả lỏng một chút, có thể làm tỉnh táo đầu óc, bình ổn tâm trạng.” Bên cạnh Hữu Hiên tiên sinh không có lính hầu, nên ông coi luôn hai người là thuộc hạ mà chỉ huy, cả hai đành ngoan ngoãn đi sang một bên giải quyết vấn đề, sau đó tìm một thung lũng giấu ngựa, ba người men theo long mạch lẹ làng lẻn vào theo hướng đầu rồng.

Núi Phù Dung trải dài, đường mòn trên núi lên xuống ngang dọc nối nhau, đặt quân mai phục vây đánh rất khó khăn. Tướng lĩnh bình thường thì chẳng nhìn ra được long mạch, chỉ có phong thủy sư chân tài thực học lại có kinh nghiệm mới có thể dọc đường vừa tầm long vừa đi, lại thêm trảm long phải trảm ở đầu rồng, An Long Nhi tất nhiên sẽ lần theo long mạch tiến vào, bởi vậy phía đầu rồng nhất định sẽ gặp quân chặn đánh, từ đó có thể đoán ra được người bày trận là ai. Quả nhiên trên đỉnh núi bằng phẳng Long bối khởi tinh đầu tiên sau khi tiến vào núi, đã phát hiện dấu vết quân Thanh.

Hữu Hiên tiên sinh nấp ra sau gốc cây, nhỏ giọng bảo An Long Nhi: “Trận này quả là quyết chiến bằng phong thủy, tôi chưa đánh với giống chó Thanh biết phong thủy bao giờ, lần này xem ra được thỏa lòng rồi.”

An Long Nhi cũng thì thào đáp: “Đối phương là nhân vật rất lợi hại, quốc sư triều Thanh đấy…” Cố Tư Văn ngồi xổm dưới đất chen vào: “Hắn tên An Thanh Nguyên, mấy năm trước từng giao đấu với bọn con, lúc nào cũng chăm chăm trảm hết long mạch Quảng Đông… Ái da.” Bị An Long Nhi đá vào mông một cái, Cố Tư Văn sực nhận ra mình đã lỡ lời.

“Trảm long mạch gì cơ, long mạch có thể trảm được sao? Không phải hắn muốn phá mộ tổ nhà họ Hồng à?” Hữu Hiên tiên sinh phát hiện ra hai kẻ hậu sinh này có chuyện giấu mình, tức giận trừng mắt nhìn Cố Tư Văn. Cố Tư Văn co người lại không dám ngẩng lên, An Long Nhi đành tìm lời lấp liếm: “An Thanh Nguyên muốn phá mộ tổ nhà họ Hồng, có điều hắn cũng có bí quyết phong thủy độc môn để trảm long mạch, hì hì…” Cậu cười khan mấy tiếng tự giải vây, nhưng Hữu Hiên tiên sinh không chịu buông tha, lại gặng tiếp: “Trên đời có thuật phong thủy trảm long ư? Chỉ mình An Thanh Nguyên biết dùng thôi à?”

An Long Nhi không biết khoác lác, nhưng cũng không thể nói ra bí mật của Long quyết, đành gãi đầu khó xử: “Có thuật phong thủy như vậy đấy, dù sao y cũng biết dùng thuật đó.”

Hữu Hiên tiên sinh xỉa ngón tay vào ngực An Long Nhi đau điếng: “Thằng nhãi tóc vàng này hễ nói dối là chớp mắt, nhất định cậu biết thuật trảm long rồi, nhìn vết sẹo trên mặt cậu hẳn là đã trải qua nhiều chuyện, sao không đi trảm long mạch Mãn Thanh hả? Chém đứt long mạch của bọn chó Thanh thì bấy nhiêu người Hán khỏi phải phản Thanh phục Minh nữa, chừng nào trở về cậu phải giải thích rõ ràng chuyện này cho ta đấy.”

“Tôi… tôi cũng không biết trảm long…” An Long Nhi phân bua vẻ vô tội, thình lình miệng cậu bị Hữu Hiên tiên sinh bịt chặt, bọn họ phát hiện một tên lính Thanh đã chú ý đến bụi cây họ nấp, đang gọi những tên khác tiến lại thăm dò.

Hữu Hiên tiên sinh dùng ngón tay ấn lên đỉnh đầu Cố Tư Văn, họ Cố liền giơ bốn ngón tay lên. Hữu Hiên tiên sinh nhìn An Long Nhi, đưa ngón trỏ lên môi rồi làm động tác đánh ngất bằng tay, lại trỏ về phía ngọn cây, An Long Nhi hiểu ý, liền tung người từ phía sau gốc cây nhảy lên. Bốn tên lính Thanh kia không thấy ai, song lại nghe thấy tiếng vạt áo bay phần phật, lập tức chạy về phía gốc đại thụ mà họ đang nấp, quát lớn: “Ai đó? Mau ra đây!”

Từ trên cây, một sợi dây đỏ lặng lẽ bay vụt ra, chính là sợi dây xâu đồng tiền, ám khí độc môn của An Long Nhi. Tên lính chạy cuối cùng chợt thấy cổ nghẹt lại, cơ thịt ở cổ đau buốt nhưng không sao thốt được ra tiếng, liền sau đó, gáy lại nhận một đòn trời giáng. Trước khi mắt tối sầm, y trông thấy sau gốc đại thụ phía trước vọt ra hai bóng đen lướt qua ba đồng đội của mình, một người trẻ tuổi cao gầy nghiến răng nghiến lợi vung tay đồng thời chặt vào cổ hai tên lính Thanh, một lão già gầy gò trừng mắt vểnh râu trực tiếp xuất chỉ điểm vào tên còn lại, rồi nhanh như cắt điểm luôn một lượt vào hai người kia, cả bọn lập tức ngã quỵ xuống đất không một tiếng động, trong óc y lóe lên ý nghĩ: gặp ma rồi.

Hữu Hiên tiên sinh và hai hậu bối trói nghiến bốn tên lính Thanh đã hôn mê lại, cả ba thay sang quần áo của lính Thanh, chợt nghe trên đầu núi có tiếng hỏi: “Bên đó thế nào rồi, có chuyện gì à?”

Cố Tư Văn lớn tiếng đáp: “Không có gì, chúng ta đi tuần xung quanh một vòng, lát nữa sẽ về.” Nói rồi, từ vị trí trên đỉnh núi nhìn xuống không thấy được, ba người lẳng lặng lẻn tới tinh đỉnh long mạch tiếp theo.

Cả bọn mặc quân phục đen của lục doanh, tay cầm trường thương hông đeo đao, xếp thành một hàng dọc đi men theo khe núi bên cạnh long mạch. An Long Nhi nói với Hữu Hiên tiên sinh: “Không ngờ tiên sinh còn biết điểm huyệt nữa, thực lợi hại quá.”

Hữu Hiên tiên sinh thổi râu đáp: “Chút tài vặt ấy đáng kể gì, nhận biết được mấy chục huyệt vị rồi luyện chừng mấy năm là làm được, biết võ công lấy một chọi một, một chọi mười thì dễ, hiểu được binh pháp, biết dùng sức một người địch được cả vạn người mới khó.”

Cố Tư Văn ngoảnh lại nói: “Đại sư bá dẫn binh đánh trận cũng lợi hại lắm đó, Long thiếu gia có dịp phải theo sư bá học hỏi đi.”

An Long Nhi nghe nói chỉ cười, cậu không thích đánh trận, cũng chẳng thấy lấy một địch vạn có gì uy phong, nếu thiên hạ thái bình thì binh pháp còn tác dụng gì chứ. Hữu Hiên tiên sinh không nhìn An Long Nhi, nhưng từ phản ứng của An Long Nhi, ông cũng cảm nhận được gã thiếu niên này không thích giao chiến, chỉ không hiểu sao một người như vậy lại luyện được võ công cao cường đến thế.

Chẳng mấy chốc đã trông thấy mỏm núi tinh đỉnh long mạch tiếp theo, không lên thì không biết có thể xuống tay trảm long ở đây hay không, bọn An Long Nhi bèn đi chậm lại, men theo con đường nhỏ dọc long mạch từ từ tiến lên. Quân Thanh đóng trên đỉnh núi, còn dựng một tòa thành vải[56] rất lớn, An Long Nhi thấy vậy liền đề cao cảnh giác, bên trong lớp thành vải kia hoàn toàn có thể đã bày sẵn trận pháp trảm long.

An Long Nhi bước lên trước hai người kia, vờ như một đội tuần binh, tiến về phía thành vải. Cả bọn mặc quân phục lính Thanh nên dễ dàng trà trộn vào đám binh sĩ đang đi lại như con thoi giữa quân doanh. Sắp đi tới gần thì thấy mấy viên quan từ bên trong vén lớp vải bước ra, trong đó có một kẻ gương mặt gầy gò, cao cỡ trung bình, dáng vẻ khúm núm, tay cầm tẩu thuốc, thân khoác áo giáp dày nặng, đầu đội mũ sắt chóp nhọn, chóp mũ cắm một trụ dài, đỉnh trụ có một dúm lông đỏ, phục trang của thiên tổng ngũ phẩm vận lên người tên này khiến người ta nảy sinh cảm giác y phục không xứng kỳ đức, An Long Nhi thoạt nhìn đã nhận ra ngay đó chính là Kim Lập Đức, đại nội ngự dụng phong thủy sư của phủ Quốc sư.

Thuở nhỏ, An Long Nhi từng mấy lần thoát chết dưới đao Kim Lập Đức, xưa nay chưa có cơ hội tìm hiểu trình độ võ công và phong thủy thực sự của hắn, song luôn thấy hắn xuất hiện trong các lần hành động của phủ Quốc sư, càng không rõ lập trường của hắn ra sao. Kim Lập Đức năm xưa nương tay tha cho một đứa bé, chưa chắc hiện giờ đã không xuống tay tàn nhẫn chấp hành công vụ, ánh mắt An Long Nhi và Kim Lập Đức giao nhau trong một khoảnh khắc rồi lập tức rời ra, cậu dẫn cả đội đi ngang qua hắn.

Kim Lập Đức trông thấy An Long Nhi thì thở dài, quay người đi vào thành vải. Một viên quan mập ú bên cạnh vội hỏi: “Hở? Kim đại nhân, không phải nói ra sau núi đánh bạc sao?”

Kim Lập Đức toan đáp thì một viên quan cao kều bên cạnh bỗng cười khanh khách nói: “Ba người các ngươi đứng lại ngay.”

An Long Nhi và Kim Lập Đức đều dừng lại, lòng cả hai trầm xuống, không hẹn mà cùng nhìn về phía người kia. Viên quan nọ cười hì hì bước tới trước Hữu Hiên tiên sinh, ghé đầu lại nhìn mặt, rồi giơ tay vuốt chòm râu bạc của ông: “Ngươi bao nhiêu tuổi rồi?”

Hữu Hiên tiên sinh thẳng thắn: “Năm mươi lăm.”

“Ta thấy ngươi phải đến bảy mươi lăm rồi ấy. Một tháng nhận lương bao nhiêu?”

Nghe câu hỏi này, An Long Nhi lo ngay ngáy, ai mà biết được quân Thanh phát lương bao nhiêu cơ chứ. Song Hữu Hiên tiên sinh lại chống trường thương ưỡn ngực đáp: “Một lạng bảy phân bạc.”

“Tốt, tốt, lính già lợi thật đấy.” Dứt lời, viên quan cao kều quay sang cười hỏi Kim Lập Đức: “Lục doanh chúng ta có hạng lính già đến thế này ư?”

Kim Lập Đức bước đến kéo viên quan kia ra nói nhỏ: “Trương bả tổng, kẻ làm quan lớn như ngài còn làm khó người già làm gì, thà trả lương thấp một chút để góp cho đủ quân số còn hơn ăn khống, bằng không lúc đánh nhau thật chúng ta moi đâu ra binh sĩ cho triều đình? Vào đây vào đây, tôi cho ngài xem cái này…” Nói rồi hắn quay sang xua xua tay với An Long Nhi: “Đi đi đi đi, phải làm gì thì làm đi, bên này không có việc gì thì sang bên kia xem xem, mau…”

An Long Nhi vẫn đứng yên bất động, mắt nhìn chằm chằm vào thành vải, Kim Lập Đức nhận thấy sát khí lạnh lẽo trong mắt cậu, biết cậu muốn kiểm chứng xem bên trong có phải đài trảm long hay không, bèn vén lớp màn vải lên, để mấy viên quan lục tục đi vào. An Long Nhi nhìn vào trong, thấy chỉ có bàn ghế và lều lán che nắng, bèn rảo bước men theo tường ngoài thành vải đi tiếp.

Đi được mấy bước, An Long Nhi chợt nghe bên trong thành vải có người đang đi song song với mình, lại nghe tiếng Kim Lập Đức sang sảng ngâm: “Muốn trảm Liêm Trinh phá Tham Lang, quỷ tinh bên dưới sát cơ tàng, thái bình chém giết làm chi nữa, hảo hán giúp vua khắp triều đường.”

Một giọng hỏi: “Kim đại nhân thật có nhã hứng, đây là thơ của ai vậy, sao tôi chưa từng nghe?”

Giọng Kim Lập Đức lại rời xa khỏi lớp tường vải: “Nếu ngươi nghe hiểu được thì mũ quan này của ta chẳng phải do ngươi đội rồi sao, cho các ngươi xem cái bình hút[57] này, xem định ra giá bao nhiêu đây?” Vừa dứt lời, một tràng tiếng hò hét ra giá rộ lên. An Long Nhi và Hữu Hiên tiên sinh đã hiểu ra, vội cúi đầu rời khỏi thành vải thật nhanh, chạy thẳng tới tinh đỉnh long mạch tiếp theo.

Chẳng mấy chốc đã đi qua quân doanh ồn ào như cái chợ của Kim Lập Đức, Cố Tư Văn rảo bước chạy tới bên cạnh An Long Nhi hỏi: “Tên quỷ gầy gầy vừa rồi chẳng phải kẻ ở dốc Thập Tự núi Nam Côn ư? Hắn ta đọc cái gì vậy, có phải đọc cho ngươi nghe không?”

An Long Nhi vừa chạy vừa đáp: “Hắn tên Kim Lập Đức, là quan thuộc phủ Quốc sư, hồi nhỏ ta từng giao đấu với hắn nhiều lần nhưng luôn được hắn tha cho, có thể hắn cũng bất mãn với những hành động thương thiên hại lý của phủ Quốc sư. Bài thơ hắn đọc có hai phần, hai câu đầu là thơ phong thủy, bảo cho chúng ta biết nơi nào xuống tay trảm long, chỗ nào có mai phục, lát nữa đi tới ngươi sẽ biết. Hai câu sau ta cũng không hiểu, Hữu Hiên tiên sinh ông có hiểu không?”

Hữu Hiên tiên sinh gừng càng già càng cay, vừa chạy vừa nói mà không hề thở dốc: “‘Thái bình chém giết làm chi nữa’ nghĩa là bọn chúng không muốn lật đổ triều Thanh thông qua chiến tranh, ‘hảo hán giúp vua khắp triều đường’, câu này không phải nói triều đình toàn hảo hán, mà ý bảo chúng muốn đưa thật nhiều quan lại người Hán vào triều đình Mãn Thanh để đạt tới cục diện chính trị người Hán nắm chính sự, vua Thanh chỉ là bù nhìn, tóm lại mấy câu này ý nói không muốn chúng ta quấy nhiễu việc của phủ Quốc sư bọn chúng.”

Cố Tư Văn vội hỏi: “Vậy đại sư bá có định ra tay nữa không?”

Hữu Hiên tiên sinh lập tức lật tay xỉa một ngón vào bụng Cố Tư Văn: “Thằng nhãi này muốn hàng Thanh à, chúng vừa nói mấy câu đã định rụt cổ lại, ngươi hỏi xem A Long có làm tiếp hay không?”

An Long Nhi chạy đầu tiên, song nãy giờ vẫn lắng nghe hai người nói chuyện, tuy không rảnh ngoái lại nhưng vẫn đáp ngay: “Chúng làm gì cũng được, nhưng không thể vì trảm long mà hại đến trăm họ.”

Xa xa về phía Nam loáng thoáng có tiếng súng nổ, ban đầu chỉ lẻ tẻ, sau lại rền vang, liền sau đó là tiếng hò reo vang dội, An Long Nhi và Cố Tư Văn biết đó là quân đội Hồng môn do Hữu Hiên tiên sinh cắt đặt đang từ bên ngoài đánh vào, có lẽ nhằm đánh lạc hướng chú ý của quân Thanh để bọn họ tiến vào núi Phù Dung theo đường núi phía Bắc. Hiện giờ họ chỉ có ba người, cũng chẳng quản được trận chiến vòng ngoài kia, chỉ có thể dấn bước tiến lên mà thôi.

Lại vượt qua một dãy long mạch Thủy tinh đỉnh hình dạng như gợn sóng, trước mặt hiện ra một ngọn núi đỉnh tròn như chiếc nón lá, An Long Nhi bèn giơ cây thương ra ngăn phía trước, mọi người đều hiểu ý dừng lại. Hữu Hiên tiên sinh nói khẽ: “Đến nơi rồi, Kim Lập Đức nói chính là chỗ này, trước tiên cứ nấp vào bụi cỏ quan sát đã.”

Trên đỉnh núi tròn tròn phía trước thấp thoáng mấy bóng người đang hoạt động, song không nhìn rõ là làm gì, dưới núi cũng không thấy binh sĩ nào xuất hiện. Cố Tư Văn hạ giọng nói: “Trước mặt không có binh lính, chúng ta lẻn đến đi.”

An Long Nhi ấn cậu lại: “Đừng cử động, nếu Kim Lập Đức nói thật thì bên dưới chỗ này toàn là phục binh đó.”

Cố Tư Văn tỏ vẻ bực bội: “Kim Lập Đức nói cái gì, các người đều hiểu cả, chỉ mỗi ta không hiểu…”

An Long Nhi ngồi xổm trong bụi cỏ chỉ về phía Nam, khẽ giải thích với Cố Tư Văn: “Qua mấy ngọn núi nữa thì có một cái hồ bên dưới núi, dưới đáy hồ táng thi thể Hồng lão gia. Luận về phần mộ, mỏm núi gần nhất phía sau kháo sơn[58] được gọi là quỷ tinh, Kim Lập Đức nói quỷ tinh bên dưới sát cơ tàng, chính là chỉ khu vực quanh đây.”

Cố Tư Văn gật gật đầu nhìn kỹ địa hình phía trước, quả nhiên trông thấy mấy đỉnh núi phía Nam trải ra mênh mông, chắc hẳn bên dưới chính là hồ: “Ra thế, mấy cái tên kỳ quặc nhiều ghê, vậy Liêm Trinh và Tham Lang là gì?”

Hữu Hiên tiên sinh nghiêm giọng mắng: “Lại một tên dốt nát kém cỏi, chẳng khác gì bọn quỷ Tây Dương.”

“Đại sư bá nói vậy sai rồi, phái Giang Tướng chúng ta xưa nay chỉ chú trọng nắm bắt lòng người hòng gạt tiền, trước giờ có ai dạy con xem phong thủy đâu, vừa rồi con cũng mới biết lão nhân gia người biết xem phong thủy thật, chứ trước đây cứ tưởng người là tay đại bịp cơ đấy.”

Hữu Hiên tiên sinh gập ngón tay cốc đầu Cố Tư Văn đánh cốp, trừng mắt: “Ta không cướp của nhà giàu chia cho người nghèo thì Hồng môn lấy đâu tiền bạc chiêu binh mãi mã hả, sau này còn phải dựa vào các ngươi đi cướp đấy.”

“Thế rốt cuộc Tham Lang là cái gì?”

An Long Nhi đang định giải thích cho Cố Tư Văn thì Hữu Hiên tiên sinh đã sầm mặt hạ giọng đáp: “Hình thế núi cơ bản có thể phân thành ngũ hành cửu tinh, dãy núi nằm trên long mạch nếu có thể liên hoàn tương sinh theo ngũ hành sẽ sinh ra long huyệt có phúc lực mạnh nhất. Ngươi nhìn đỉnh núi cao vút xa nhất kia kìa, đó là núi Liêm Trinh thuộc Hỏa hình, loại kháo sơn này chủ con cháu làm quan đến Tam Công, là phúc lực mạnh nhất trong phong thủy; ngọn núi cao thẳng đỉnh tròn trước mặt thì là núi thuộc Tham Lang Mộc hình, cũng là một trong các loại núi lành, hiếm hơn là vừa khéo theo ngũ hành tương sinh lại làm vượng cho núi Liêm Trinh đằng trước, khiến long mạch tràn trề nguyên khí, bởi thế Kim Lập Đức mới nói ‘muốn trảm Liêm Trinh phá Tham Lang’, ý bảo phá long khí trên núi Tham Lang…”

“Nhổ mất cây, lửa tự nhiên sẽ tắt, ồ, có lý có lý.” Cố Tư Văn đang thông minh chen vào thì trông thấy trên đỉnh núi Liêm Trinh có sấm nổ, lan ra liên tiếp thành một vòng quanh đỉnh núi không hề gián đoạn, tới khi đỉnh núi lở ra sụp xuống, ngọn núi đỉnh nhọn nháy mắt biến thành đỉnh bằng. Ba người không hẹn mà cùng đứng phắt dậy từ trong bụi cỏ, Hữu Hiên tiên sinh từng trải trăm trận cũng sửng sốt thốt lên: “Phá phong thủy mà phải huy động trận pháp lớn thế này, xem ra bọn chó Thanh quả hận Hồng Tú Toàn tận xương tủy.”

Cùng lúc ấy, Cố Tư Văn cũng nói: “Núi Liêm Trinh thế là toi rồi, may mà vừa nãy còn kịp nhìn một cái.”

Đỉnh Liêm Trinh bên kia còn đang nổ long trời lở đất, thì đỉnh Tham Lang gần đó cũng vang lên một tiếng nổ, mọi người đều lùi lại nửa bước theo phản xạ. Vụ nổ lần này khác vụ trên đỉnh Liêm Trinh, chỉ thấy một cột lửa đỏ lẫn cả đá vỡ và khói thuốc súng xông thẳng lên trời, như dựng nòng pháo chỉ thiên bắn pháo mừng vậy, bầu trời lập tức hiện ra một quầng lửa đỏ, cây cỏ trên núi cũng bắt đầu rung chấn khẽ.

Hữu Hiên tiên sinh vội lẩm bẩm: “Chuyện gì thế này? Đây là điềm báo động đất mà.”

An Long Nhi nhìn vầng hồng trên trời từ từ hạ xuống, dần biến thành ánh sáng năm màu rực rỡ, rung chấn dưới đất càng lúc càng mạnh, làn sóng khí đem theo tiếng ồ ồ trầm thấp rúng động lòng người đổ ập về phía bọn họ. Cậu quay lại nói với Hữu Hiên tiên sinh: “An Thanh Nguyên sắp trảm long rồi, vừa nãy là y xuyên qua mặt đất đánh vào tử huyệt long mạch, bước tiếp theo sẽ giết đám trẻ nhỏ để máu chúng chảy vào tử huyệt trảm long, chúng ta phải đánh lên núi Tham Lang ngay bây giờ.”

Hữu Hiên tiên sinh cười nhạt: “Hừ, cả thuật phong thủy trảm long mạch ta cũng gặp rồi, coi như không sống uổng kiếp này, được, để ta xem xem y trảm long thế nào.” Dứt lời bèn theo An Long Nhi xông xuống núi, lao nhanh về phía Tham Lang.

Ba người vừa xông xuống núi, lập tức thấy đại đội quân Thanh đuổi đến đằng sau, thì ra Kim Lập Đức nghe tiếng nổ đã dẫn binh lính tới. Hắn vẫn cầm khư khư tẩu thuốc, vẫy tay về phía sau, hướng xuống núi lớn tiếng: “Bắn tên! Tất cả bắn tên cho ta!” Binh lính bên cạnh Kim Lập Đức lũ lượt giương cung lắp tên bắn về phía bọn An Long Nhi, nào ngờ họ Kim đẩy ngay mấy tên lính đang bắn tên ở hai bên ra, chửi toáng lên: “Ngu lắm! Bên dưới toàn cây cối, làm sao bắn trúng người được? Tất cả bắn lên trên, bắn sang phía sườn núi đối diện kia kìa, ghim chết đám phản tặc đi!”

An Long Nhi vừa chạy đến chân dốc núi, đang chuẩn bị ngẩng mặt xông lên núi Tham Lang thì thấy tên bắn rào rào về phía sườn núi trước mặt, cả ba vội dừng lại. Cố Tư Văn nấp ra sau thân cây, nhìn trận mưa tên phía trước, buông nhận xét: “Tên của Kim Lập Đức toàn bắn quá đầu cả, khúc dồi này buồn cười thật đấ…” Chữ “đấy” còn chưa nói hết đã thấy tên cắm phập xuống trước mặt, vừa cắm xuống đất liền nổ dữ dội, khiến Cố Tư Văn kinh hãi thét lên: “Có loại tên lợi hại thế này á?” Lập tức ôm đầu lăn ra xa, cả người lấm lem bùn đất.

Hữu Hiên tiên sinh rất thông thạo các loại chất nổ trên chiến trường, liền cao giọng đáp lời Cố Tư Văn: “Đừng xông lên, đó không phải Thiên Lôi tiễn đâu, mà là địa lôi, Kim Lập Đức bắn tên để cảnh báo chúng ta trên sườn núi toàn địa lôi.”

An Long Nhi lớn tiếng đáp: “Không đợi được nữa đâu, trên núi đang giết người đó, mà lại giết trẻ con.” Dứt lời liền tung người nhảy lên cây, rồi thoăn thoắt nhảy sang một cây khác, nhanh nhẹn chẳng kém khỉ vượn, toan chuyền theo các ngọn cây mà lên núi. Khinh công của Cố Tư Văn không được đến mức đó, cậu từ dưới đất lồm cồm bò dậy, chống trường thương nhảy luôn vào miệng hố vừa nổ hồi nãy, đoạn vung thương quét một vòng, lại kích phát hai quả địa lôi trước mặt nổ vang, ù cả hai tai.

Hữu Hiên tiên sinh quát lên: “Tránh ra!” Cố Tư Văn ngoái lại, chỉ thấy Hữu Hiên tiên sinh tay bưng một tảng đá đen lớn xông lên mấy bước, vung tay ném tảng đá lên sườn núi, lập tức một dãy địa lôi nổ tung dọc theo đường lăn xuống của tảng đá. Cố Tư Văn và Hữu Hiên tiên sinh nằm rạp xuống đất, đợi địa lôi nổ hết mới ngẩng lên nhìn, thấy An Long Nhi vẫn đang đứng trên một ngọn cây cách đó không xa, thì ra trên sườn núi nhiều cỏ ít cây, không có chỗ đặt chân để nhảy lên tiếp nữa.

An Long Nhi từ trên ngọn cây nhìn lên đỉnh núi, thấy bầu trời càng lúc càng tối sầm, lại không phải tối vì mây đen che mặt trời, mà bởi từng cuộn khí đen quỷ dị từ dưới đất bốc lên bao trùm núi Tham Lang, ánh sáng năm màu giữa đám khí đen không ngừng chuyển động, thỉnh thoảng lại có một ánh đỏ rực từ dưới đất bốc lên rồi hòa vào quầng sáng giữa không trung. Dù không tận mắt thấy tình cảnh An Thanh Nguyên trảm long, song trực giác mách bảo An Long Nhi đây là cảnh tượng sau khi giết người, mỗi lúc giết một người, sẽ có một luồng sáng màu đỏ máu bốc lên.

Cậu cũng nhìn thấy cách Hữu Hiên tiên sinh phá trận địa lôi, bèn rút đao Vô Minh đeo sau lưng ra, vung đao chặt một cành cây to bằng cánh tay ném xuống đất, lập tức kích phát một trận nổ. Tiếng nổ vừa dứt, cậu liền nhảy xuống cành cây đó, thọc hai tay xuống đất, móc ra một tảng đá đen lớn, ném về phía Hữu Hiên tiên sinh, theo đường lăn xuống của tảng đá, một con đường nổ ra ngay trước mặt Hữu Hiên tiên sinh.

Hữu Hiên tiên sinh tránh tảng đá, cùng Cố Tư Văn chạy tới bên cạnh An Long Nhi, An Long Nhi nói: “Không còn thời gian đâu, tôi đi trước ba trượng, hai người theo sau nhé.” Đoạn vung sợi dây đỏ buộc đồng tiền từ cổ tay ra, bắn lên sườn núi, rồi rút dây đỏ lại, đồng tiền vừa vào tay, trước mặt lại nổ thành một con đường. An Long Nhi lập tức rút đao, ngón giữa tay trái vuốt nhẹ vào lưỡi đao, vẽ ra một vết máu, miệng niệm mật chú, dùng máu vẽ một đạo Lục đinh u minh phù lên thân đao, đoạn không ngừng thét vang phi thân xông lên, hai tay giơ đao chém mạnh tới trước, tức thì một cơn lốc đen từ lưỡi đao cuộn thẳng lên núi, tại chỗ cơn lốc nổi lên, thân hình An Long Nhi cũng biến mất trước mắt Hữu Hiên tiên sinh, chỉ thấy một vầng lửa đỏ và một vụ nổ từ lưng chừng xộc thẳng lên đỉnh núi.

Cố Tư Văn nhìn mà há hốc miệng, Hữu Hiên tiên sinh cười nói: “Thằng nhãi này khá thật, còn có chiêu này nữa, A Văn, lên nào!”

Trong ánh lửa ngút trời, An Long Nhi nhảy vọt lên đỉnh Tham Lang, chỉ thấy trước mắt là một màn sương đen nửa mờ nửa tỏ, đoán rằng đây là kết giới An Thanh Nguyên bày ra khi thi triển trảm long, trong màn sương là một đài trảm long hình bát quái, rộng khoảng ba trượng, tám đứa bé cả trai lẫn gái bị trói trên tám cây cọc gỗ theo phương vị bát quái. An Thanh Nguyên vận áo lụa dài màu lam, ngoài khoác áo lông cáo ngắn đang bước theo canh bộ trên bình đài lênh láng máu, trường kiếm như con rắn bạc nhằm vào yết hầu bé trai ở vị trí cung Cấn, lập tức cổ đứa bé phun ra một vòi máu, bắn xuống mặt bình đài, rồi theo rãnh máu đổ vào lỗ máu ở chính giữa, cổ đứa bé kia cũng oặt ra, đầu gục xuống, một luồng sáng vặn vẹo đỏ rực màu máu từ giữa đài trảm long vọt thẳng lên không.

Chỉ chớp mắt, máu trong người An Long Nhi đều dồn cả lên đầu, tình cảnh trước mặt quá sức điên rồ, cậu không thể bình tĩnh ra chiêu nữa, càng không thể quan sát đến tình thế bên cạnh, đan khí cả đời cậu đều trút vào Vô Minh đao chém ra, một con rồng đen tức thì gào rú uốn mình lao lên đài trảm long, cùng lúc đó, bốn phía xung quanh rộ lên tiếng súng nổ.

An Thanh Nguyên chẳng buồn nhìn An Long Nhi, chỉ chăm chú bước từng bước theo Vũ Hoàng canh bộ, sử ra từng chiêu Thái Ất kiếm pháp. Khi Vô Minh đao chém vào màn sương đen, mấy luồng kiếm khí mãnh liệt cũng xói thẳng vào mặt cậu, song An Long Nhi chẳng hề né tránh, chỉ nhắm Vô Minh đao vào An Thanh Nguyên với tốc độ nhanh nhất, kiếm khí đâm vào người cậu cũng chẳng hề hấn gì, nhưng sau khi xông vào màn sương đen, cậu liền rơi vào bóng tối.

“Chướng nhãn pháp?” An Long Nhi lập tức múa đao quanh người hộ thân, miệng niệm Quang minh chú phá tà pháp. Vô Minh đao múa tít như chong chóng, bên tai cậu không ngừng vang lên tiếng đao kiếm va nhau leng keng, qua cánh tay, cậu cảm nhận được có ba luồng lực đạo khác nhau tấn công mình. Bên cạnh có ba tên địch, An Long Nhi hoàn toàn có thể dùng kết giới hộ thân hất văng đối thủ ra, song nếu đây là trung tâm của đài trảm long, xung quanh còn tám đứa bé, trong đó lỡ có đứa còn sống, nhất định không chống đỡ nổi kết giới của cậu, sẽ chết ngay lập tức.

An Long Nhi không phá ngay được kết giới của đối phương, song đã thấy được tình cảnh xung quanh. Cậu đang đứng giữa đài trảm long, nhưng chỉ thấy mỗi mình An Thanh Nguyên cách đó một trượng đang đâm kiếm vào cô bé ở cung Khôn. Vừa rồi là ai tấn công mình nhỉ? Ý nghĩ ấy vừa lóe lên, lập tức bị đao khí của Vô Minh đao át đi, giữa lúc cấp bách, cậu không lập kết giới hộ thân, càng không nghĩ tới những vấn đề khác, cả thân tâm cậu chỉ có một đao cần chém ra nhất.

“Cà sa trảm!” An Long Nhi hét lớn, Vô Minh đao chém xéo xuống lưng An Thanh Nguyên, An Thanh Nguyên nghe tiếng đao rít gió sau lưng, lập tức rút phắt trường kiếm từ cung Khôn lại, nhẹ nhàng đâm ngược ra sau, suýt soát gạt được thế đao của An Long Nhi, An Long Nhi đương vung đao chém ra, để lộ sơ hở, tức thì mạng sườn, lưng và đùi đồng thời trúng liền ba đao.

Cố Tư Văn và Hữu Hiên tiên sinh đang lần theo con đường đầy địa lôi nổ ùng oàng lửa ngút trời xông lên núi thì nghe thấy một tràng tiếng súng. Hữu Hiên tiên sinh tăng tốc, cướp đường xông lên trước, vừa chạy vừa bảo Cố Tư Văn: “Mau lên núi đi, lúc chúng lên đạn sẽ có khoảng trống.” Hai người băng qua tiếng nổ leo lên đỉnh núi thì trông thấy trong màn sương đen không ngớt vần vũ, An Long Nhi đang đứng giữa đài trảm long vung đao chém loạn xạ, song xung quanh lại không thấy tay xạ thủ nào, bèn dốc sức lao thẳng vào màn sương đen.

Vừa đến gần màn sương, cả hai đều cảm thấy da thịt toàn thân đau đớn như thể trong màn sương có ngàn vạn lưỡi phi đao đâm vào mình, cơ thịt co quắp như bị chuột rút, hai người lập tức ngã lăn ra ngoài, Cố Tư Văn kêu oai oái: “Đây là yêu pháp gì vậy…” Vừa dứt lời, xung quanh lại rộ lên một đợt súng nổ, cả hai cuộn tròn người lăn ra, Hữu Hiên tiên sinh nhắm chuẩn một đốm lửa đang nhả đạn, nhảy vọt lên vung đao chém xuống. Ánh đao lướt qua, máu tươi bắn vọt lên, một người tay lăm lăm súng đột nhiên xuất hiện từ hư không, ngã quỵ xuống đất.

“Ồ, không phải chứ, còn cả phép ẩn thân nữa à!” Cố Tư Văn miệng nói chân chạy, sử hết công phu, khua thương quét hết một lượt những nơi có thể có người ẩn nấp trên đỉnh núi, bước như ngựa phi, thương như rồng lượn, những nơi ngọn thương lướt qua, cây cỏ xung quanh xao động không ngớt. Hữu Hiên tiên sinh hét to: “Không được ngừng chạy, đừng để chúng nhắm trúng.” Đoạn cuộn mình lăn tròn dưới đất gạt chân một vòng, cuốn lên một đám bụi đất, cát đá bắn loạn lên bốn phương tám hướng.

Cố Tư Văn trông thấy Hữu Hiên tiên sinh múa Địa Thang quyền trên đỉnh núi, liền chăm chú quan sát những viên đá bay ra, cậu phát hiện có mấy viên đá nhỏ rơi xuống đất một cách bất thường, như đập phải một thân thể vô hình trong không trung, lập tức vung tay phóng trường thương về phía đó. Sau một tiếng kêu thảm, cây thương đâm trúng một tay súng trong không trung, Hữu Hiên tiên sinh dựa vào tiếng thét, vung đao chặt đứt đôi người hắn, tiện tay nhặt luôn khẩu súng, phát hiện súng đã lên đạn sẵn. Một người đã lên đạn thì nhất định toàn bộ phục binh cũng đã chuẩn bị sẵn sàng, Hữu Hiên tiên sinh vội hét lên: “Mau tránh ra, chúng sắp nổ súng đấy!”

Hai người lập tức chạy vụt về hai hướng khác nhau, quả nhiên một tràng súng nổ lại vang lên, lần này Hữu Hiên tiên sinh lại nhắm chuẩn một đốm lửa bên cạnh, mượn đà chạy nhảy lên không quay người nổ súng phản kích. Ông nhắm bắn rất chuẩn, tay súng bên kia lập tức ngã gục ngay trước mặt, Cố Tư Văn xách một khẩu súng Tây chạy lại, lần thấy túi đạn trên thi thể, cũng giơ cây súng nhặt được nhằm vào bụi cỏ bên cạnh nổ súng.

Tiếng súng và hỏa lực của cậu đều rất mạnh, thiêu cháy cả một vạt cỏ dài, cỏ xuân ẩm ướt sau khi bén lửa lập tức bốc khói mù mịt khiến người ta sặc sụa. Hữu Hiên tiên sinh thoạt trông đã hiểu ngay, lúc nổ súng phải nhồi thuốc súng trước, rồi mới lắp đạn chì, song Cố Tư Văn chỉ nhồi có hai phần thuốc súng, tốc độ lên đạn sẽ nhanh hơn đám xạ thủ kia nhiều, huống hồ cậu chỉ cần bắn xả lửa phóng hỏa núi, bất luận là khói hay lửa, đều có thể ép đám phục binh xung quanh hiện hình. Thấy Cố Tư Văn thông minh như thế, Hữu Hiên tiên sinh nhủ thầm: Người phái Giang Tướng thật giỏi động não, thằng nhỏ này có tiền đồ đấy. Nghĩ vậy, ông cũng làm theo Cố Tư Văn, tranh thủ lúc chạy nhồi đầy thuốc súng rồi bắn xả vào bụi cỏ đang xao động, hai người cùng ra tay, chẳng mấy chốc đã làm dấy lên một biển lửa khói mù mịt, xung quanh lũ lượt vang lên tiếng bụi cỏ xào xạc cùng tiếng ho sặc sụa, tình thế tức thì lật ngược.

Cố Tư Văn chạy về phía một lùm cỏ đang lay động, ném súng Tây đi, lật tay nắm lấy cán thương, vận sức toàn thân giơ thương ngang hông đập tới. Cậu đã tính trước, kẻ học võ thấy chiêu thức quét ngang nhất định sẽ thụp xuống né tránh, người đang ho sặc sụa thường cũng sẽ khom lưng, quật thương ngang hông như thế vừa khéo đập trúng phần đầu đang cúi. “Binh” một tiếng, quả nhiên có kẻ la lên thảm thiết, ngã gục trước mặt cậu, tay ôm quai hàm lăn lộn dưới đất, xem ra răng đã bị cán thương đập gãy. Cố Tư Văn bước lên bồi thêm một cước vào đầu, khiến tên lính đó ngất lịm, còn hậm hực mắng: “Xem ngươi còn giả thần giả quỷ dọa người nữa thôi.”

Khinh công của Hữu Hiên tiên sinh đã luyện nửa đời, không có chút nào giả trá, ông vứt khẩu súng Tây nặng trịch xuống, nhặt thanh đao nhẹ nhàng linh hoạt lên, đâm chém liên tục như ma quỷ, hễ nghe thấy bất cứ tiếng gió lay cỏ động bất thường nào xung quanh, ông đều vung đao chém tới, chẳng mấy chốc, trên đỉnh núi đã la liệt mấy chục cái xác. Dưới sườn dốc núi Tham Lang vẫn không ngớt tiếng nổ đì đùng, hẳn là những tên xạ thủ bỏ chạy trên đường xuống núi giẫm phải địa lôi.

Thoắt chốc, trên đỉnh núi đã mù mịt khói, Hữu Hiên tiên sinh và Cố Tư Văn cũng ho sặc sụa, cả hai gắng nhịn ho càn quét thêm một vòng nữa, tới khi không còn nghe thấy tiếng kẻ khác ho mới thôi. Cố Tư Văn lớn tiếng hỏi: “Đại sư bá, khụ khụ, người không sao chứ?”

Hữu Hiên tiên sinh đã bị khói hun đến nỗi nước mắt nước mũi giàn giụa như con nghiện lên cơn vật thuốc, đáp: “Ta… Khụ khụ khụ… Không sao, mau nghĩ cách giúp A Long đi!”

Qua làn sương đen, hai người nhìn lên đài trảm long thấy An Long Nhi mình đầy vết thương đang nhảy lên đáp xuống đấu với An Thanh Nguyên, xung quanh An Long Nhi hoa lửa bắn tứ tung, phát ra tiếng leng keng không ngớt, tựa hồ có mấy người đang đồng thời tấn công cậu vậy. An Long Nhi gọi to: “Hai người mau chém đứt rãnh máu dưới đất đi, đừng để máu chảy vào tử huyệt nữa.”

Ở phía ngoài, cách đài trảm long chừng bảy trượng, trên nền đất có một cái hố lớn, đây chính là long mạch tử huyệt mà An Long Nhi nói, một hàng ống tre bắc thành con kênh nối từ đáy đài trảm long tới cái hố, trong hố, máu đã ngập đến lưng chừng, đang từ từ thấm vào lòng đất, từ dưới hố, một cơn lốc đỏ rực màu máu bốc lên, nhằm thẳng vào vầng sáng ngũ sắc trên trời, Hữu Hiên tiên sinh vừa nghe An Long Nhi nói dứt câu, liền tung người lao về phía dãy ống tre, vung đao chém xuống, ngay lập tức, từ trên đài trảm long, hai bóng đen cũng nhào tới chém vào lưng Hữu Hiên tiên sinh.

An Long Nhi dốc sức chiến đấu trên đài, tuy ba tay đao ẩn thân kia không thể một đao chém chết cậu, song tốc độ và lực đạo xuất đao đã đủ cầm chân cậu trên bình đài nhỏ hẹp. Trong một khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi, An Long Nhi đã tận mắt thấy An Thanh Nguyên lách qua khe hở giữa ánh đao bóng kiếm trùng trùng của đôi bên, liên tục giết chết hai đứa bé mà mình không rảnh được khắc nào để cứu viện, lại sợ lỡ làm hại bọn trẻ nên không dám dùng đạo pháp tối cao chấn vỡ đài trảm long, hiện giờ Hữu Hiên tiên sinh đã thu hút hai tay đao đi, An Long Nhi vội chớp cơ hội tấn công An Thanh Nguyên.

An Thanh Nguyên nãy giờ vẫn không hề quan tâm tới trận chiến ngay bên cạnh mình, chỉ chăm chú bước theo canh bộ lần lượt giết từng đứa trẻ một, giờ đã giết được bảy đứa, oán khí tử vong bảng lảng khắp trên đài, y chỉ cần một kiếm cuối cùng giết chết đứa bé trai ở cung Chấn, máu của đồng nam đồng nữ sẽ mang tà lực trảm sát long mạch, lấy đỉnh Phù Dung làm trung tâm, dấy lên một cơn địa chấn long trời lở đất trong vòng trăm dặm quanh đó.

An Long Nhi ý thức được đây là khoảnh khắc cuối cùng, bèn dùng đao pháp cực nhanh cầm chân tay đao đang ẩn thân chặn giữa cậu và An Thanh Nguyên, đồng thời cắn đầu lưỡi phun ra một ngụm máu, trước mặt cậu hiện lên một gương mặt máu me đầm đìa, thoạt trông đã nhận ra ngay chính là Sơn Đông khoái đao Lục Hữu. Thực ra khi chém giết xông lên đài, tuy không trông thấy đối thủ, song cậu sử đao rất nhanh, xưa nay luôn tự tin vào đao pháp của mình mà lần này vẫn bị đối phương bám riết, cậu đã đoán rằng đối thủ chính là y.

Lục Hữu vừa hiện thân, tất cả ưu thế đều nghiêng về phía An Long Nhi, cậu nhắm chuẩn hướng Lục Hữu tiến lên vung đao, bèn trầm người xuống, vung Vô Minh đao chém xuống mặt đài trảm long. Uỳnh một tiếng vang trời, An Long Nhi biến mất trước mặt Lục Hữu, chui tuột xuống đáy bình đài, hai chân vừa chạm mặt đất lập tức lẩn đến dưới vị trí An Thanh Nguyên đang đứng. Một loạt động tác này xảy ra chỉ trong khoảnh khắc giữa một kiếm của An Thanh Nguyên, khi trường kiếm của y chỉ còn cách yết hầu bé trai kia mấy tấc, sàn gỗ dưới chân đột nhiên vỡ tung, một con rồng đen xông ra từ dưới kiếm y, cắn nát thanh kiếm, đôi móng rồng lấp loáng vồ vào ngực y.

An Thanh Nguyên chỉ thấy tay tê rần, cả cánh tay lập tức mất hết tri giác, mở mắt ra đã thấy tuyết đen rợp trời, trong làn mưa tuyết, có hàng nghìn luồng sáng đen chém vào y. Y biết An Long Nhi không phải lo lắng gì nữa đã phát ra công lực cực hạn, trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, tất cả đạo pháp võ công không kịp sử ra đều là đồ bỏ cả. Ý nghĩ chờ chết vừa lóe lên, thân thể y đã bị một luồng sức mạnh cực lớn kéo sang bên, va đổ cả cọc gỗ buộc thân đứa bé, ngã nhào ra ngoài màn sương đen.

Khi y ngẩng lên, chỉ thấy An Long Nhi người đầm đìa máu giơ đao chặn ngang người, xuống tấn, băng qua miệng hố, chắn trước mặt đứa bé trai may mắn sống sót, điên cuồng hướng về phía quầng sương máu mà gào thét, vô số thịt vụn bay ra từ đó, Lục Hữu nãy giờ vẫn sánh vai tác chiến với mình trên đài trảm long đã biến mất không còn tăm tích, một nửa bình đài cũng tan thành tro bụi như thể bị đại pháo oanh tạc.

Tháng trước, An Thanh Nguyên cùng Tể tướng Trại Thượng A tham gia vây công thành Vĩnh An Quảng Tây, tuy đã dùng binh pháp trảm long phá giải binh pháp ngự long của Lục Kiều Kiều, làm tiêu hao sức chiến đấu của quân Thái Bình một dạo, nhưng cuối cùng quân Thái Bình lại từ núi Đại Động phá vây xông ra, còn Trại tướng mà y khó khăn lắm mới tranh thủ được sự ủng hộ lại bị hoàng đế Hàm Phong giáng chức điều tra.

Phải nhìn nhận lại về sức chiến đấu của quân Thái Bình, lại thêm sự bất lợi trên chính trường, An Thanh Nguyên hạ quyết tâm lập tức trở về Quảng Đông chém đứt long mạch mộ tổ họ Hồng, hòng tận diệt khí thiên tử của Hồng Tú Toàn. Chỉ sau khi lấy máu đồng nam đồng nữ khắp nơi huyết tế trời đất, mới có thể nghịch thiên trảm long, song An Long Nhi lại cứu thoát đứa bé trai cuối cùng, khiến trảm long có khả năng thất bại. Có điều chỉ cần đứa bé trai kia còn đó, vầng sáng yêu dị trên trời chưa tan hết, An Thanh Nguyên vẫn còn một tia hy vọng cuối cùng.

An Thanh Nguyên lập tức chập ngón út hai bàn tay lại, đầu ngón cái kẹp chặt đốt giữa ngón giữa, kết thành Sinh Thiên ấn, miệng quát: “Cấp cấp như nam cực luyện hồn tinh quân luật lệnh sắc!” Đây là thuật luyện hồn trong Thiên Sư đạo dùng để đối phó với kẻ địch mạnh, người trúng thuật dù công lực mạnh đến đâu, cũng sẽ bị ép nguyên thần ra khỏi thân thể, khiến thân thể không sao cử động, cho tới khi kẻ thi thuật giải chú hoặc đan khí tiêu tán mới nhập lại được vào thân thể.

An Long Nhi dùng đao khí cực mạnh chém Lục Hữu thành bọt máu, chợt phát hiện bản thân đột nhiên nhảy vọt lên không trung, cậu nhìn quanh, chỉ thấy một bản thân khác đang đứng ngây ra bên dưới, An Thanh Nguyên đang lao tới phía sau mình, một đòn đánh gãy cây cọc gỗ trói đứa bé trai, rồi kẹp đứa bé xông tới hố máu tử huyệt long mạch. Cậu muốn chạy đến ngăn cản An Thanh Nguyên, song không sao điều khiển được thân thể bên dưới, muốn hét lên gọi Cố Tư Văn, song ngay chính cậu cũng không nghe được tiếng mình. An Long Nhi biết tình thế rất nguy, nguyên thần của bản thân đã rời khỏi thân thể, bị khóa chặt trên không.

Một đao của Hữu Hiên tiên sinh vừa chém đứt rãnh máu, máu bắn tung tóe trên mặt đất chỗ vết chém, hai luồng kình phong cũng đồng thời ập đến sau lưng ông. Ông chẳng cách nào thu đao lại tự cứu mình, đành thuận thế xông tới mấy bước, nhảy lên không quay người lại vung đao nhằm thẳng hướng tiếng gió đâm tới. Hai người phe đối phương đều là tay đao hạng nhất do Lục Hữu ra mặt mời từ Sơn Đông tới, chuyên bảo hộ đài trảm long và phối hợp với Lục Hữu khắc chế Vô Minh đao pháp của An Long Nhi. Khinh công hai bên ngang ngửa nhau, song đao pháp của hai kẻ kia nhanh hơn Hữu Hiên tiên sinh nhiều, trong chớp mắt, hai tên đã liên tiếp chém ra mấy chục đao, Hữu Hiên tiên sinh đỡ trái hở phải, lùi đến rìa dốc núi, nếu còn lui nữa sẽ đạp phải trận địa lôi bên dưới, đành phải quyết một trận sống mái với chúng.

Cố Tư Văn không có pháp lực chém giết xông lên bình đài, nhưng đủ sức giải vây cho Hữu Hiên tiên sinh, cậu nhặt mấy khẩu súng đã lên đạn dưới đất, xông tới cạnh chỗ ba người đang hỗn chiến, nổ súng bắn vào một người trong đó. Hai tay đao sau đợt tấn công vừa rồi đã biết Hữu Hiên tiên sinh không phải đối thủ của mình, giờ cũng chẳng cần giằng co với súng Tây làm chi, vừa nghe tiếng súng nổ, cả hai vội né ra, rồi chạy tới truy kích Cố Tư Văn, chỉ đợi cậu bắn hết loạt súng sẽ ung dung chém chết. Song một tiếng nổ long trời đã phá vỡ kế hoạch của chúng, An Long Nhi vận đan khí lên đến mức cực hạn, vung Vô Minh đao chém ra, không chỉ chém Lục Hữu máu thịt tung tóe mà còn phá vỡ một nửa đài trảm long, gỗ vụn sắt vụn văng ra khiến tất cả ngã nhào xuống đất, hai tay đao kia nãy giờ vẫn quay lưng về phía đài trảm long, trực diện hứng lấy chấn động của đao khí, bị sóng khí dập cho ngất lịm.

Cố Tư Văn chống người dậy, lắc lắc đầu giũ hết đất đá, chợt trông thấy một cảnh tượng kỳ quái, màn sương đen trên đài trảm long đã tan biến, An Long Nhi đờ đẫn đứng trên nửa bình đài còn lại, An Thanh Nguyên lại thuận lợi bắt lấy đứa bé trai từ sau lưng cậu, bế nó lao về phía hố máu tử huyệt long mạch ngay trước mặt mình. Cậu toan ngồi lên, song xương cốt toàn thân như gãy rời, động chỗ nào là đau chỗ đấy, vừa nghiến răng bò dậy thì đột ngột phun ra một ngụm máu tươi, cả người mềm nhũn lại gục xuống đất. Từ dưới đất nhìn lên, cậu trông thấy từ rìa dốc núi, Hữu Hiên tiên sinh đang vung đao bổ tới An Thanh Nguyên.

Trong mắt An Thanh Nguyên chỉ có tử huyệt long mạch, y và đồng liêu đã hy sinh nhiều như thế chỉ vì lần trảm long này, dù chỉ còn một mảy may hy vọng, y cũng không thể bỏ qua. Y ném đứa bé vào hố máu, tay trái tóm tóc nó kéo giật ra sau, đứa bé ngẩng đầu rít lên the thé trong cổ họng, ngón tay phải An Thanh Nguyên chập lại như kiếm đâm xuống, chỉ mong máu của đồng nam cuối cùng này nhỏ được vào tử huyệt, dốc nốt chút cố gắng cuối cùng để hoàn thành việc trảm long.

Đao của Hữu Hiên tiên sinh đã chém tới sau lưng An Thanh Nguyên, y chưa kịp giết đứa bé đã phải tự cứu mình trước, liền xoay cổ tay phải, kiếm chỉ phát ra kiếm khí mãnh liệt đâm vào ngực Hữu Hiên tiên sinh. Hữu Hiên tiên sinh hự lên, trước ngực bắn ra một vòi máu, cơn đau kịch liệt khiến toàn thân ông run lên, đánh rơi thanh đao xuống đất. Song ông không ngã ngửa ra sau mà tiếp tục nhào vào An Thanh Nguyên, quát lớn một tiếng, ôm cứng y từ phía sau lôi ra khỏi hố máu.

An Thanh Nguyên không sao tưởng tượng nổi ông già râu tóc bạc phơ này lại khỏe đến thế, hai tay y bị Hữu Hiên tiên sinh ghì chặt, lôi xềnh xệch về phía dốc núi, An Thanh Nguyên kinh hoàng nhận ra, Hữu Hiên tiên sinh muốn ôm y lăn xuống trận địa lôi cùng chết. Y muốn dùng đạo pháp giải vây song hai tay không thể kết thành thủ ấn, đành dốc hết sức lực toàn thân, sử ra Phản Cầm nã thủ, ra sức xuống tấn giằng tay ra, gỡ ngón tay phá chiêu.

Hữu Hiên tiên sinh tuy không biết đạo pháp nhưng lại là bậc cao thủ trong quyền thuật, mấy chiêu thức này chẳng nhằm nhò gì với ông. An Thanh Nguyên xuống tấn thì ông cũng xuống tấn; y quay người toan vùng ra, húc đầu, vung chân đều bị Hữu Hiên tiên sinh lần lượt hóa giải, sau cùng ông ôm theo An Thanh Nguyên ngã lăn dưới đất, thét lớn một tiếng, phát lực quấn lấy đối phương cùng lăn xuống núi.

Hữu Hiên tiên sinh tận mắt chứng kiến cuộc chiến giữa An Thanh Nguyên và An Long Nhi, hiểu rằng đó là cảnh giới hạng võ phu bình thường không thể lý giải và chống cự nổi, khi lồng ngực bị kiếm khí xuyên qua, hai mắt ông tối sầm lại, tim gần như ngừng đập, nhưng ông vẫn dựa vào ý chí cực mạnh, giáng cho An Thanh Nguyên một đòn cuối cùng. Ông biết chẳng ai trên đời thoát được cái chết, trong bảy mươi lăm năm sống trên đời, ông đã chiến đấu với triều Thanh mất quá nửa, cuộc đời như vậy khép lại trong máu và lửa sau khi được tận mắt thấy thuật phong thủy tối cao trên thế gian, chính là lựa chọn hoàn mỹ nhất.

An Thanh Nguyên nổi gân xanh đầy mặt, hỏi: “Ngươi là ai?”

“Đồ chó Thanh, tao là tể tướng Hồng môn, Hữu Hiên của Cửu Long đường!” Hữu Hiên tiên sinh vừa nói vừa ôm cứng An Thanh Nguyên kéo về phía dốc núi.

An Thanh Nguyên thều thào: “Ta không phải đồ chó Thanh! Các ngươi muốn phản Thanh phục Minh, các quan lại người Hán chúng ta cũng muốn giành lấy cục thế người Hán nắm quyền trong triều, đôi bên đều nhằm đoạt giang sơn về tay người Hán mà, mau thả ta ra!”

Gân cốt toàn thân Hữu Hiên tiên sinh co rút lại, từ từ siết chặt An Thanh Nguyên, máu tươi nhuộm đầy lưng áo y. Ông rít qua kẽ răng: “Người Hán nhất định sẽ đoạt lại thiên hạ, nhưng quyết không thể để kẻ điên giết trẻ nhỏ của mình, trảm long mạch của mình làm quan của người Hán được!”

An Thanh Nguyên ngã lăn dưới đất, vận sức vào hai chân ưỡn người dậy đè lên Hữu Hiên tiên sinh bên dưới: “Hồng môn phản Thanh hai trăm năm nay vẫn chưa thành công là do thất bại về mặt chiến lược của các người, chỉ biết dấy binh làm loạn mỗi năm khiến dân chúng không thể sống yên… Số người Hán bị các ngươi tạo phản hại chết cũng chẳng ít hơn số bị triều đình giết hại đâu…”

“Có cái chết nhẹ như lông hồng, có cái chết nặng như núi Thái, lúc nước mất nhà tan, kẻ sĩ ôm chí lớn thà rơi đầu làm quỷ anh hùng còn hơn cúi đầu làm nô tài!”

An Thanh Nguyên nghe đến câu này, hơi thở càng thêm nặng nhọc, vội la lên: “Hữu Hiên, ngươi mới là đồ điên! Trăm họ trong thiên hạ chẳng cần làm anh hùng, họ chỉ muốn sống mà thôi, ngươi chỉ biết đánh trận chứ có hiểu gì đạo trị quốc, định phá hỏng việc lớn của ta ư! Mau buông ta ra!”

Hữu Hiên tiên sinh chẳng buồn nhiều lời với An Thanh Nguyên làm gì cho phí sức, mũi ông phì phì từng đợt, như đang dốc sức, cũng như đang cười khẩy.

Nguyên thần của An Long Nhi bị khóa giữa không trung, trông thấy Hữu Hiên tiên sinh và An Thanh Nguyên liều chết đấu với nhau trên đỉnh núi ngổn ngang xác chết, cũng nghe rõ mồn một từng lời từng chữ họ nói, cậu muốn khóc mà chẳng nhỏ nổi một giọt nước mắt, muốn kêu mà không thốt được ra lời, muốn lao đến kết liễu tính mạng của An Thanh Nguyên, nhưng nguyên thần không ở trong thân thể không thể ra sức, ý thức của cậu đau đớn ghi khắc câu nói của Hữu Hiên tiên sinh: Vì sao không đi chém long mạch của triều Thanh?!

Cố Tư Văn nhìn cách đánh của Hữu Hiên tiên sinh, hiểu rõ ý đồ của ông, nhưng khi cậu cất được giọng khàn khàn gọi đại sư bá thì Hữu Hiên tiên sinh và An Thanh Nguyên đã đồng thời lăn xuống dốc núi, từ đỉnh đến chân núi Tham Lang phát ra hàng tràng tiếng nổ liên tiếp, lửa bốc ngút trời.

Nguyên thần của An Long Nhi lập tức quay về với thân thể, cậu thử vận động tứ chi, thấy tuy mang nhiều vết thương song vẫn có thể cử động như thường, bèn lập tức lao tới dốc núi nơi Hữu Hiên tiên sinh lăn xuống. Từ trên nhìn xuống, núi Tham Lang xanh rì như bị một đao chém xả chính giữa, vết chém sém đen bốc khói mù mịt. Cơn rung chấn nhẹ cùng tiếng ù ù trong không khí đã ngừng lại, xoáy lốc đỏ lòm nối liền hố máu và bầu trời cũng tan biến, xem ra Trảm long quyết đã mất hiệu lực, có vẻ sẽ không xảy ra động đất và thiên tai tiếp nữa.

An Long Nhi nôn nóng muốn xuống núi tìm Hữu Hiên tiên sinh, nhưng xung quanh toàn quân Thanh mai phục, cậu trông thấy đã có cánh quân lũ lượt đuổi đến xếp thành một hàng dọc, lần theo con đường an toàn được đánh dấu tấn công lên núi, xa xa vẫn truyền đến tiếng súng tiếng pháo cùng tiếng chém giết, sau lưng là lục doanh do Kim Lập Đức thống lĩnh. Dù Kim Lập Đức không ra tay, thì chắc gì những quan quân dưới cờ hắn đã không muốn lập công, hiện giờ phải lập tức rời khỏi nơi này. Cậu bèn kéo bé trai bị ném vào hố máu lên mặt đất, kiểm tra thấy mũi miệng vẫn còn hơi thở, mạch tượng bình thường khỏe mạnh, song vạch mí mắt lên lại thấy con ngươi trợn to, hẳn là sợ đến hồn phi phách tán, toàn thân mềm nhũn. An Long Nhi nhanh nhẹn cởi cúc áo cổ thằng bé, vẽ một đạo Hồi hồn phù lên ngực nó, rồi dùng kiếm điểm nhanh vào huyệt Quỷ cung dưới mũi, bé trai kia thình lình mở mắt tỉnh dậy, trông thấy trước mặt là một tên lính Thanh mặt sẹo, tóc vàng, toàn thân đầy máu, vội dáo dác nhìn quanh rồi kinh hãi khóc ré lên đòi tìm bố mẹ. An Long Nhi chẳng có thời gian dỗ trẻ con, kéo thằng bé đến bên cạnh Cố Tư Văn, cõng họ Cố đang hôn mê dậy, dùng áo buộc sau lưng cho chắc, tay lôi đứa bé khóc ngằn ngặt, men theo con đường máu mà Hữu Hiên tiên sinh lăn đi, lao xuống núi.

An Long Nhi vừa xuống núi vừa cao giọng gọi Hữu Hiên tiên sinh, con đường máu này cũng không dài hẳn đến chân núi, song không thấy bất cứ tung tích nào của An Thanh Nguyên và Hữu Hiên tiên sinh. Là cả hai đều bị nổ chết, hay vẫn có người sống sót? Nếu Hữu Hiên tiên sinh sống được nhất định sẽ tìm mình, còn nếu An Thanh Nguyên thoát chết, nhất định sẽ chuồn thẳng. An Long Nhi đã bắt đầu thích ứng với cách tác chiến của An Thanh Nguyên, biết được An Thanh Nguyên thường xếp đặt tầng tầng mai phục, liên kết chặt chẽ với nhau, trận thế do y bày ra chắc chắn sẽ có một đường lui an toàn, điểm này rất giống Lục Kiều Kiều.

An Long Nhi không dám tính việc sống chết của Hữu Hiên tiên sinh, song đã bói cho An Thanh Nguyên một quẻ, từ quẻ tượng biết được An Thanh Nguyên chẳng những chưa chết, mà đã đi về phía Nam, vượt qua núi Liêm Trinh bị san phẳng đỉnh, chẳng mấy chốc sẽ xuống hồ rời đi theo đường thủy. An Long Nhi cõng Cố Tư Văn, tay bế bổng bé trai, gấp rút đuổi theo.

Vượt qua núi Liêm Trinh đi tiếp về hướng Nam chính là huyệt Ngũ Xà Hạ Dương mộ tổ nhà họ Hồng, nơi năm xưa cậu cùng Lục Kiều Kiều, Jack và các anh hùng Hồng môn giao thủ với phủ Quốc sư lần đầu tiên. Dưới núi là mặt hồ rộng mênh mông, bốn bề bao quanh bởi năm dãy núi hình dáng như năm con rắn dẫn thẳng xuống nước, khói thuốc súng bốc lên mù mịt khắp nơi, bên tai chỉ nghe tiếng thác nước và súng nổ ầm ầm như sấm, khiến An Long Nhi đương lúc cấp bách chẳng có thời gian cảm khái cũng không sao khống chế được cảm xúc trào lên trong lòng.

Trên bờ hồ hình dạng như vuốt rồng, quân đội Hồng môn đang kịch chiến với quân Thanh, một con thuyền nhỏ nhằm thẳng về phía quân Thanh bên bờ đối diện lướt như bay, dù cách đến mấy dặm, không nhìn rõ được người trên thuyền, song An Long Nhi biết rõ kẻ đó chính là An Thanh Nguyên. Cố đuổi nữa cũng không kịp, khi An Long Nhi lao đến bờ hồ thì An Thanh Nguyên đã cập bờ bên kia, quân Thanh cũng lục tục rút lui.

Sinh long khẩu hạ táng Hồng Quốc Du lão gia dưới đáy hồ năm xưa đột nhiên liên tiếp phát nổ, khiến nước và lửa trên mặt hồ đều xộc thẳng lên trời như thể trời long đất lở, dưới ánh mặt trời thình lình có mưa to trút xuống, nước hồ văng lên đến nửa dốc núi như sóng lớn ập tới, có thể thấy An Thanh Nguyên đã đặt sẵn trận địa mìn phá huyệt, chỉ đợi sau khi trảm long thì hủy huyệt. An Long Nhi cũng chẳng thể ngăn nổi thủy lôi liên hoàn quy mô lớn thế này, đành kéo đứa bé, cõng Cố Tư Văn nấp vào một nơi an toàn.

Cố Tư Văn từ từ tỉnh lại, phát hiện mình bị buộc sau lưng An Long Nhi, trước mắt là huyệt Ngũ Xà Hạ Dương trên đỉnh Phù Dung. Cậu yếu ớt hỏi: “Đại sư bá đâu rồi?”

“Vẫn chưa tìm thấy.”

“Ông ấy không chết chứ?”

An Long Nhi ngoảnh bên mặt có vết sẹo về phía Cố Tư Văn: “Ngươi cũng biết xem tướng, thấy khí sắc của Hữu Hiên tiên sinh lúc xuất phát thế nào?”

Cố Tư Văn phều phào đáp: “Ừm, tốt lắm…”

“Vậy không sao đâu.” An Long Nhi xưa nay không biết nói dối, song lần này cậu không nói ra sự thật. Thực ra khi Trảm long quyết khuấy động long thần, sẽ sản sinh ra kết giới âm tà làm nhiễu loạn khí vận ngũ hành trong phạm vi mấy dặm hoặc thậm chí rộng hơn, mệnh vận của bất cứ ai đều có thể chệch khỏi phương hướng ban đầu vì sự phá hoại của kết giới khổng lồ này, người chưa tới số chết cũng có thể mất mạng dưới hoàn cảnh cực đoan ấy. Giống như mấy chục vạn người trong thành, số mệnh mỗi người mỗi khác, song khi nạn binh đao ập đến, sẽ xảy ra kiếp nạn tàn sát toàn thành, lúc này chỉ cần là người trong thành, bất luận bát tự mệnh vận ra sao, đều khó tránh khỏi tai kiếp.

“An Thanh Nguyên thì sao?” Cố Tư Văn chợt lên tiếng cắt ngang dòng suy nghĩ của An Long Nhi, cậu đáp: “Chạy rồi…”

“Để ta xuống, chúng ta quay lại tìm đại sư bá…” Cố Tư Văn giãy giụa, nhưng cơn đau trên mình lập tức cảnh cáo cậu dù có tụt xuống cũng không sao cử động được.

An Long Nhi bình tĩnh bảo Cố Tư Văn: “Ngươi đừng cử động, giờ ta vẫn còn cõng được, trước tiên phải tìm các huynh đệ Hồng môn báo tin, để họ cùng tìm Hữu Hiên tiên sinh, sau đó chúng ta về nhà… Hiện giờ trên núi toàn lính Thanh, đợi chúng rút lui, ngươi dưỡng thương khỏe lại, chúng ta sẽ quay lại tìm.”

Cố Tư Văn gục đầu xuống vai An Long Nhi, hai tay buông thõng, yếu ớt đáp: “Giờ ngươi là đại ca, ngươi nói thế nào thì theo thế.”

An Long Nhi giao đứa bé vừa cứu được cho người của Hồng môn, nhờ họ ra sức tìm giúp cha mẹ nó, nếu không tìm được thì phải nuôi dạy nó thành người. Cậu cũng là trẻ mồ côi nên hiểu rất rõ con người không thể chết dễ dàng như vậy, chỉ cần cho người ta một cơ hội sống, một bát cơm ăn, biết đâu ngày mai đã có thể đứng dậy trở lại, mở ra một đoạn đường sinh mệnh diệu kỳ.

Mấy ngày sau, An Long Nhi và Cố Tư Văn về đến nhà ở Anh Châu, thân thể Cố Tư Văn chỉ bị chấn động bởi đan khí, An Long Nhi giúp cậu băng bó và vận khí chữa trị, chẳng bao lâu đã bình phục. Jack và Sái Nguyệt kể bọn họ nhận được một tin khác từ Hồng môn, quân Thái Bình tại Quảng Tây đã phá vòng vây quanh thành Vĩnh An, khi phá vây còn đặt phục binh ở núi Đại Động, trong một ngày tiêu diệt hơn vạn quân Thanh, sĩ khí quân Thanh giảm sút cực độ, các quan viên đến Quảng Tây dẹp loạn đều bị giáng chức. Hiện giờ quân Thái Bình đã khuếch trương với lực lượng lớn, lại liên tiếp đánh hạ mấy thành, đang chuẩn bị tấn công lên phía Bắc nhằm vào Bắc Kinh, sào huyệt của triều Thanh. Jack bồn chồn đi đi lại lại trong sảnh, kích động bảo An Long Nhi: “Kiều Kiều rời khỏi thành Vĩnh An rồi, Nhị ca vẫn ở trong quân Thái Bình nên chắc cô ấy sẽ không một mình bỏ đi đâu, tôi muốn đi tìm cô ấy, cậu có đi không?”

Cố Tư Văn vừa dùng dao cạo râu, vừa chăm chú lắng nghe tin chiến trận mới nhất, lúc này mới vỗ trán nói: “Thế thì tôi hiểu rồi, con cáo già An Thanh Nguyên mấy năm nay không động đến mộ tổ của Hồng Tú Toàn, là muốn xem xem long huyệt thiên tử này có hiệu quả thực không, hiện giờ quân Thái Bình đã phá vây đánh ra khỏi Quảng Tây, hắn mới biết sợ, vội chạy đến phá huyệt. Mà hồ nước trên đỉnh Phù Dung nổ tung rồi, rốt cuộc đã chém đứt long mạch hay chưa?” Cậu nói dứt lời, mọi người đều đổ dồn ánh mắt vào An Long Nhi.

An Long Nhi cười hì hì: “Phương pháp trảm long của y là do bản thân y tự mò tìm ra, phải dựa theo các loại canh bộ khác nhau để giết tám đứa trẻ, hiện giờ chúng ta đã cứu thoát một đứa, làm rối loạn canh bộ của y, sau cùng cũng không dẫn tới thiên tai khủng khiếp, có lẽ chỉ tính là chém được một nửa? Ta nghĩ thế này, thông qua trận huyết chiến lần này, An Thanh Nguyên đã biết chỉ cần y có hành động ở Quảng Đông, thì Hồng môn và chúng ta đều nhìn vào, y lăn qua dốc núi gài trận địa lôi, dù không chết cũng tróc hết da, trong thời gian ngắn sẽ không nghĩ tới việc trảm long nữa đâu…”

Cố Tư Văn lại nói: “Ai dà, ngươi còn nhớ những lời hắn nói với đại sư bá không? Hắn nói hắn muốn để người Hán nắm chính sự, đoạt lại giang sơn của người Hán từ nội bộ triều Thanh, thực ra so với sách lược dùng vũ lực trong dân gian lật đổ triều Thanh của Hồng môn chỉ khác nhau về cách làm. Đương nhiên có thể con cáo già ấy nói dối, song nếu hắn nói thật thì trảm long mạch không phải mục đích cuối cùng của hắn, chỉ là khoản cược để hắn ăn nói trong triều mà thôi, thực ra hắn không nhất thiết phải liên tục trảm long.”

“Tôi nhớ ra một việc, có lẽ An Thanh Nguyên không biết.” Tư duy của Jack rất nhanh nhạy, nên anh không hề ngồi xuống, mà cứ đi đi lại lại trong sảnh: “Hồi ở thành Vĩnh An, tôi từng nghe Phùng Vân Sơn nói, bát tự của Hồng Tú Toàn không đủ để trở thành hoàng đế, song cốt yếu là Phùng Vân Sơn ngay từ đầu đã không định vực dậy một vị hoàng đế, y muốn xây dựng một thể chế giống như quốc hội nước Mỹ vậy, chỉ có chế độ quân chủ trên danh nghĩa mà thôi…”

Sái Nguyệt ngồi bên cạnh giơ cánh tay nhỏ nhắn của A Tầm lên, hết lắc sang phải lại lắc sang trái, nói bằng giọng nũng nịu: “Dù bọn xấu xa phá mộ tổ của Hồng Tú Toàn, cũng không đánh bại được quân Thái Bình đâu…” A Tầm chẳng hiểu người lớn nói gì, song thấy Sái Nguyệt lắc lắc tay mình cũng cười như nắc nẻ.

Jack lại lên tiếng: “Tôi nói chính là ý này, quân Thái Bình do quân sư thống lĩnh, Hồng Tú Toàn không phải nhân vật chủ chốt, trước mắt lãnh tụ chủ yếu là Dương Tú Thanh và Phùng Vân Sơn, thực ra bên dưới còn các quân sư khác nữa, Hồng Tú Toàn rất ít khi đích thân phát ra mệnh lệnh. Một là An Thanh Nguyên đánh phá đỉnh Phù Dung cũng chẳng ảnh hưởng gì đến quân Thái Bình, hai là nếu y cứ dốc hết tâm trí vào đỉnh Phù Dung, thì có khi đó là mưu kế của Phùng Vân Sơn hòng giữ chân y…”

An Long Nhi cười nói: “Mọi người nói đều có lý cả, có điều An Thanh Nguyên sẽ nhận ra điều này rất nhanh thôi. Linh lực phong thủy có thể phát huy rất nhanh, nếu sau khi trảm long, quân Thái Bình càng đánh càng mạnh, ắt y sẽ nghĩ tới khả năng mọi người vừa nói. Bất kể An Thanh Nguyên là chó săn triều đình hay tự xem mình là vị quan gây ra chính biến đoạt quyền từ nội bộ triều đình, y cũng đều coi quân Thái Bình, Hồng môn và chúng ta là phản tặc, chúng ta không có cái gọi là ‘ngày trời quang mây tạnh’ đâu…”

Cố Tư Văn tiếp lời ngay: “Bởi thế chúng ta nhất định phải giết An Thanh Nguyên…”

“Sai rồi.” Lời An Long Nhi nói khiến tất cả mọi người đổ dồn ánh mắt kinh ngạc vào cậu: “Ha ha, ta muốn xem xem long mạch của triều Thanh một khi bị chém đứt sẽ gây ra kết quả gì, Hữu Hiên tiên sinh cũng muốn thấy điều này đó.”

Sái Nguyệt quan tâm hỏi: “Nhưng ngươi không biết Trảm long quyết kia mà?”

An Long Nhi đáp: “Phải, ngay cả Long quyết ta cũng chưa từng trông thấy, song cô Kiều biết Tầm long quyết và Ngự long quyết, ta lại biết tâm pháp Trảm long quyết, Lôi thích cũng nằm trong tay ta, thêm cả vị trí mấy lần trảm long của An Thanh Nguyên, ta nghĩ cô Kiều hoàn toàn có thể đoán ra trong Trảm long quyết viết gì.”

Jack nghe An Long Nhi nói vậy thì mừng rỡ chạy ngay tới bên cạnh khoác vai cậu hỏi: “Cậu cùng tôi đi tìm Kiều Kiều ư?”

An Long Nhi gật đầu cười khiến Jack mừng đến nỗi hôn chụt một cái lên trán cậu. Cố Tư Văn nhìn Sái Nguyệt, nửa hỏi ý, nửa lại như tự nói một mình: “Chúng ta cũng đi cùng chứ.”

Sái Nguyệt cúi xuống nắm hai cánh tay A Tầm, hai người cùng Đại Hoa Bối nhảy nhót một vòng giữa sảnh, vừa nhảy vừa nói: “Chúng ta và A Tầm cùng lên phía Bắc ngắm tuyết rơi nào.”

Cố Tư Văn lập tức bật dậy khỏi ghế, vung dao cạo râu quát lớn: “Được, đợi ông đây tới chém đứt long mạch giống chó Thanh!”