Trâm 2: Kẻ Yểu Mệnh

Chương 17: Hoài sắc túc vi

Hoàng Tử Hà được Lạc Bội chỉ đường, tới nhà bếp tìm Xương Bồ.

Xương Bồ lại đang chọn món cho ngày mai, luôn miệng căn dặn mấy bà nấu bếp và chạy vặt: “Công chúa không được khỏe, phải ăn thanh đạm thôi, bớt gà vịt thịt cá đi, nhất định phải có bốn thức bổ máu ích khí, hôm trước đã bảo công chúa thích cẩu kỷ kia mà, sao không thấy các người mua?”

Đám chạy vặt vâng dạ rối rít, có kẻ rầu rĩ phân trần: “Cẩu kỷ phải đúng mùa mới ngon, giờ quá mùa rồi, trong chốc lát biết tìm đâu ra?”

Xương Bồ thở dài đập bàn nói: “Ta không biết, công chúa đòi ăn, nếu các người không mua được, sáng mai ta sẽ lột da đầu từng người một.”

Lạc Bội thập thò bên ngoài gọi với vào: “Xương Bồ cô cô.”

Xương Bồ quay lại thấy bọn họ, mới xua tay giải tán đám người kia, đoạn đứng dậy miễn cưỡng cười bước ra: “Dương công công, có việc tìm tôi ư?”

Hoàng Tử Hà bước vào ngồi đối diện với Xương Bồ, nói: “Lần trước tới hỏi han cô cô mấy chuyện, giờ vẫn còn vài điểm nghi vấn, mong cô cô giải thích cho.”

Xương Bồ sầm mặt: “Vẫn là chuyện Ngụy Hỷ Mẫn đấy ư? Quả thật tôi cãi vã với y đúng một lần, trong phủ cũng không chỉ mình tôi xích mích với y, tháng trước Trụy Ngọc chẳng phải gây gổ một trận ầm ĩ đấy ư…”

Hoàng Tử Hà cười: “Không không, tôi không định hỏi việc đó.”

“Vậy… chẳng hay công công muốn hỏi gì?”

Hoàng Tử Hà nhìn thẳng Xương Bồ: “Xin hỏi, cô cô có thể kể tường tận cho tôi lai lịch chỗ linh lăng hương lần trước hay không?”

Xương Bồ ngạc nhiên hỏi: “Liên quan gì… đến linh lăng hương?”

“Chuyện này tôi không tiện tiết lộ, tôi cũng chỉ phụng lệnh Thôi thiếu khanh của Đại Lý Tự đến hỏi cô cô thôi.” Hoàng Tử Hà đường hoàng đáp.

Xương Bồ cúi đầu: “Là… là một người ngoài phủ cho tôi.”

“Không biết người ấy là ai?” Hoàng Tử Hà gặng.

Xương Bồ cắn môi, xong vẫn đáp: “Là ông chủ tiệm ngựa Tiền Ký, Tiền Quan Sách.”

Hoàng Tử Hà không ngờ ông chủ Tiền Quan Sách lùn mập kia lại có liên quan tới một người nấu bếp trong phủ công chúa, tức thì nhíu mày lại.

Ngụy Hỷ Mẫn đòi linh lăng hương, dẫn đến cãi vã với Xương Bồ ở nhà bếp; trong phòng Tôn ghẻ, Vương Uẩn ngửi thấy mùi này; mà Tiền Quan Sách là người phá cửa xông vào nhà Tôn ghẻ, đồng thời cũng là kẻ bán con ngựa đen khiến phò mã bị thương…

Thứ gì nối liền tất cả những chuyện này? Manh mối chưa hiển lộ trong đó, rốt cuộc là gì đây?

Cô lại hỏi: “Xương Bồ cô cô, thứ cho tôi tọc mạch, cô cô là người cai quản nhà bếp phủ công chúa còn Tiền Quan Sách lại là chủ tiệm ngựa, có vẻ không dính líu gì tới nhau…”

“Đúng thế… Chúng tôi cũng mới quen đầu năm nay.” Xương Bồ cúi gằm mặt, đầu ngón tay vẽ vẽ lên bàn, vẻ lúng túng, “Bấy giờ ông ta chỉ huy một đám thợ thuyền tu sửa đường nước trong phủ công chúa, vì đường nước trong bếp là nhiều nhất, nên tôi và ông ta thường bàn bạc về phân bổ đường nước, nhờ thế mà quen nhau. Ông ta… béo thì có béo, lùn thì có lùn, nhưng tính tình rất tốt. Trong lúc họ đang sửa chữa, có lần tôi không cẩn thận rơi xuống hố vữa, chính là ông ta cõng tôi ra, còn múc nước gột sạch giày cho tôi rồi đưa trả lại…”

Nhìn gương mặt ửng hồng của Xương Bồ, Hoàng Tử Hà bất đắc dĩ phải nhắc nhở: “Ông chủ Tiền đã ngần ấy tuổi, hẳn cũng có vợ con rồi.”

“Đúng thế, trong nhà ông ta có vợ có thiếp, còn có ba đứa con trai.”

Hoàng Tử Hà chẳng nói thêm gì nữa, chỉ hỏi: “Ông chủ Tiền tặng cô cô linh lăng hương, sau đó theo quy củ trong phủ, cô cô trình lên công chúa, nào ngờ công chúa lại ban cho Ngụy Hỷ Mẫn phải không?”

“Đúng vậy, kết quả tên Ngụy Hỷ Mẫn đó tham lam vô độ, tôi chỉ có chừng ấy, xong hắn khăng khăng cho rằng tôi vẫn còn một ít, bèn chạy đến đòi. Tôi bảo không có, hắn liền nằng nặc đòi địa chỉ của ông chủ Tiền, nói… nói rằng đòi tình nhân của tôi thì cũng thế!” Kể đến đây, Xương Bồ đỏ mặt tía tai vì tức giận, “Rõ là nói nhăng nói cuội! Người nào không biết lại nghĩ giữa tôi và ông chủ Tiền có chuyện gì xấu xa!”

“Xương Bồ cô cô bớt nóng, thực ra… tôi cảm thấy suy đoán của Ngụy công công cũng có lý.” Hoàng Tử Hà giải thích, “Linh lăng hương rất quý, ai mà biết ông chủ Tiền lại rộng rãi, đem tặng cô cô thứ quý giá như thế chứ.”

“Nhảm nhí, tôi giúp ông ta bao nhiêu lần, mạo hiểm…” Nói đến đó, Xương Bồ bỗng ngưng bặt, như vừa nhận ra mình lỡ miệng, xong lời đã thốt ra không thu lại được, đành ủ rũ ngồi im.

Hoàng Tử Hà nhìn vào mắt Xương Bồ hồi lâu, chẳng nói năng gì.

Trước cái nhìn chăm chú của cô, Xương Bồ thở dài, bất đắc dĩ đành tiếp tục, “Có lần ông chủ Tiền kể với tôi, trước đây ông ta có một đứa con gái, nếu còn sống đến giờ thì cũng phải mười bảy mười tám rồi. Tiếc rằng năm ấy ông ta dẫn vợ con chạy nạn đến ngoại ô thành Trường An, nghèo khổ túng quẫn quá, chẳng có cách nào, đành bán con gái lớn mới gần bảy tuổi lấy năm quan tiền. Nhờ năm quan ấy cả nhà ông ta mới sống được, ông ta cũng dựa vào bán cỏ khô mà dựng nghiệp, về sau lại gặp quý nhân, ra quan ngoại móc nối với mấy trại ngựa lớn, làm ăn càng ngày càng phát đạt, ba đứa con trai cũng nối nhau trưởng thành, có điều… ông ta nói đời này nợ con gái là nhiều nhất, chỉ e không tìm lại được nó nữa.”

Hoàng Tử Hà gật đầu hỏi: “Việc này nên đến bộ Hộ hỏi han mới phải, sao lại tìm cô cô?”

“Năm xưa người mua con gái ông ta là một công công, nghe nói là người trong cung đi tìm mua cung nữ. Ông ta đoán có lẽ con gái mình không ở trong cung, mà ở trong phủ đệ các vương. Tiếc rằng ông ta chỉ là thương nhân, sao có thể ra vào cung điện hay vương phủ? Còn tôi dẫu gì cũng là người của phủ công chúa, cũng có tiếng nói với mấy thị nữ hầu cận bên công chúa, thỉnh thoảng họ vào cung hoặc tới nhà các vương làm khách, biết đâu lại nghe ngóng được gì đó. Tuy hy vọng mong manh, nhưng dù sao cũng là một con đường.”

Hoàng Tử Hà cười hỏi: “Cô cô nhiệt tình giúp người, hẳn đã đi nghe ngóng giúp ông ta phải không?”

Nghe xong, Xương Bồ chợt lộ vẻ ngượng nghịu rất lạ: “Việc này… cũng thực trùng hợp, đứa con gái mà ông ta muốn tìm… lại ở ngay trong phủ công chúa.”

Hoàng Tử Hà không khỏi ngạc nhiên. Cung nữ thị nữ trong cung, trong phủ công chúa cũng như phủ đệ các vương nhiều như lông trâu, sơ sơ lên đến vạn người, sao lại trùng hợp đến thế, vừa nhờ người của phủ công chúa tìm, thì người lại ở ngay trong phủ, quả là quá mức trùng hợp.

“Có lẽ đây cũng là do… ông ta thành tâm thành ý, số mệnh đã định, nên mới trùng hợp như vậy.” Xương Bồ giải thích.

“Vậy con gái ông ta là ai?”

Vẻ mặt Xương Bồ càng thêm kỳ lạ, đảo mắt hồi lâu mới đáp: “Tôi nghĩ có lẽ là… Thùy Châu.”

“Thùy Châu ư? Làm sao mà biết được?”

“Ừm… Thùy Châu năm nay mười bảy tuổi, năm bảy tuổi bị bán vào cung, nghe nói… trong nhà cũng có hai em trai, hơn nữa trên cổ tay còn có… vết bớt giống hệt như ông chủ Tiền miêu tả.”

“Hai em trai ư?”

“Đúng vậy, con út của ông chủ Tiền, khi gia đình phát đạt mới chào đời.”

“Đúng là quá trùng hợp, chắc ông chủ Tiền vui lắm.”

“Phải phải, việc này quả là trời ban cho, đến tôi cũng mừng thay cho họ. Nhưng xin Dương công công hẵng giữ kín cho, nếu không cần thiết thì đừng tiết lộ với ai cả.” Xương Bồ thở dài, “Dù sao vẫn là tôi lén nhận tiền của người ta, giúp đỡ người khác sau lưng công chúa, theo lệ sẽ bị đuổi ra khỏi phủ đấy.”

“Cô cô yên tâm, việc này cũng là hành thiện tích đức mà. Chỉ cần không liên quan tới vụ án, tôi sẽ giữ kín như bưng!” Hoàng Tử Hà bảo đảm.

Bấy giờ Xương Bồ mới gật đầu, xong nét mặt vẫn đầy vẻ ưu tư.

Hoàng Tử Hà ngẫm nghĩ giây lát rồi hỏi: “Cô cô là người từ nhà phò mã sang ư?”

Xương Bồ vội gạt đi: “Ôi dào, giờ chúng ta đều là người phủ công chúa rồi, còn phân ra bên này bên kia gì nữa.”

“Tôi không có ý ấy.” Hoàng Tử Hà cười nói: “Tôi chỉ thấy tên của cô cô thực thanh nhã, lại nghe nói trong phủ còn có Đậu Khấu, Diên Vỹ… nên đoán chắc các vị là chị em.”

“Đúng đúng, mấy người chúng tôi tuổi tác xấp xỉ nhau, năm xưa phò mã còn nhỏ tuổi, đều làm việc trong nhà phò mã. Tôi được phu nhân xem trọng, cho quản nhà bếp, Diên Vỹ quản việc sinh hoạt, Ngọc Trúc chăm lo sách vở bút mực… Bấy giờ mấy chị em rất thân thiết.”

“Thế còn Đậu Khấu?”

Nhắc đến Đậu Khấu, Xương Bồ rầu rầu thở dài: “Đậu Khấu không mấy thân thiết với chúng tôi, cô ấy là người hầu hạ bên cạnh phò mã sớm nhất, năm ấy phò mã ba bốn tuổi, còn cô ấy mười ba, năm nay cũng phải… ba mươi ba rồi.”

“Giờ Đậu Khấu ở đâu?”

“Tháng trước, tại vườn Tri Cẩm, Đậu Khấu sẩy chân rơi xuống nước… chết đuối.”

Hoàng Tử Hà nghĩ ngay đến lời Thùy Châu từng nói, nghe đồn trong vườn Tri Cẩm có ma. Cô liền hỏi dò: “Nghe nói vườn Tri Cẩm bị công chúa niêm phong rồi ư?”

“Đúng thế… Nghe nói sau khi Đậu Khấu chết, nửa đêm trong vườn Tri Cẩm thường có người khóc lóc, đạo sĩ làm phép trừ tà cũng vô dụng, nên công chúa cho người khóa lại.”

“Tiếng khóc của nam hay nữ?” Hoàng Tử Hà hỏi.

“Tôi không biết nữa, là công chúa nói có tiếng khóc, công chúa đã nói chẳng lẽ lại sai ư?”

Hoàng Tử Hà gật đầu, lại hỏi: “Trước đây Đậu Khấu ở đó à?”

Xương Bồ lắc đầu: “Không, cô ấy ở vườn Túc Vi. Khi phò mã thành hôn, lão gia phu nhân cũng định tìm một nhà tử tế gả Đậu Khấu, xong phò mã khăng khăng nói từ nhỏ được cô ấy hầu hạ đã quen, nhất định đòi đưa cô ấy theo. Về sau, Đậu Khấu cai quản cả vườn Túc Vi, nơi ở của phò mã, tôi ở nhà bếp thì tối mắt tối mũi, Diên Vỹ có nhàn nhã hơn, xong dưới tay còn hơn mười cô thợ thêu, ngày ngày phải coi sóc việc thêu thùa, Ngọc Trúc cũng bận bịu chăm lo thư phòng. Bốn người chúng tôi ai lo việc nấy, thỉnh thoảng chạm mặt nhau chỉ hàn huyên được mấy câu, sau đó chợt nghe tin Đậu Khấu qua đời, tôi rất xót xa, còn tìm bọn Diên Vỹ hỏi han xong họ chẳng biết gì cả. Nhưng người trong phủ lại đồn rằng, có lẽ Đậu Khấu bị ma quỷ trong vườn Tri Cẩm mê hoặc, đưa lối dẫn đường nên mới rơi xuống giếng. Bằng không vườn Túc Vi cách vườn Tri Cẩm khá xa, sao cô ấy lại chết tại đó được?”

Hoàng Tử Hà trầm ngâm: “Nói vậy thì… phò mã rất quý mến Đậu Khấu ư?”

“Phải rồi, Đậu Khấu lớn hơn phò mã mười tuổi, lại chăm lo cho phò mã từ nhỏ, nên phò mã xưa nay rất kính trọng cô ấy. Có lúc phu nhân cũng đùa rằng, Đậu Khấu ở bên phò mã nhiều năm như thế, còn thân thiết hơn cả mẹ ruột là mình.”

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Ra thế.”

Thấy cô không hỏi gì thêm nữa, Xương Bồ liền giở sổ sách ra bắt đầu đối chiếu các khoản thu chi.

Để ý thấy ngón tay gảy bàn phím của Xương Bồ hơi chậm, Hoàng Tử Hà biết Xương Bồ không thoải mái vì có mình ở đây, bèn đứng dậy chào: “Đã vậy tôi phải cáo từ cô cô thôi.”

“Công công đi thong thả.” Xương Bồ thở phào, còn thuận miệng mời mọc: “Hay là ở lại dùng cơm tối đã, để tôi bảo người chuẩn bị vài món công công thích.”

“Thôi thôi, Quỳ vương gia đang đợi tôi ở chỗ phò mã.”

Hoa tử vi trong vườn Túc Vi vẫn đang nở rộ. Dưới ánh nắng chói chang, từng chùm hoa càng rực lên sắc hè.

Phò mã Vi Bảo Hoành đang kể khổ với Lý Thư Bạch: “Vương gia cũng biết đấy, không phải con không đi săn sóc công chúa, mà là vì con còn ốm đau nhếch nhác, công chúa không triệu con đến, con làm sao đến được. Con nguyện bưng trà rót nước cho công chúa, nhưng công chúa lại thích nghe Vũ học chính ở Quốc Tử Giám giảng Chu Lễ hơn kia!”

Nói đến đây, thấy hoạn quan dẫn Hoàng Tử Hà đến, hắn cười ngượng ngập, giơ tay gọi cô: “Dương công công.”

“Tham kiến phò mã.” Cô hành lễ, đoạn đứng ra sau Lý Thư Bạch.

Lý Thư Bạch thản nhiên gạt chủ đề vừa rồi đi, chỉ nói: “Gần đây trong phủ công chúa hình như có rất nhiều chuyện lạ.”

“Đúng thế… Ngụy Hỷ Mẫn chết, con đánh kích cúc cũng xảy ra chuyện, giờ thì… cây trâm Cửu loan công chúa yêu thích nhất lại biến mất một cách lạ lùng.” Vi Bảo Hoành bóp trán thở dài, “Chẳng biết có phải là trong phủ có thứ gì đó tác oai tác quái như đám đạo sĩ thối kia nói không…”

Lý Thư Bạch hỏi: “Thứ gì cơ?”

“Chính là… chuyện ở vườn Tri Cẩm đó.” Hắn quay sang hỏi Hoàng Tử Hà, “Dương công công có phải cũng nghe được lời đồn trong phủ rồi không?”

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Có phải phò mã muốn nói tới việc Đậu Khấu, tỳ nữ hầu cận bên mình vô cớ chết đuối trong vườn Tri Cẩm không?”

“Ừm…” Hắn lẳng lặng gật đầu, ánh mắt thoáng vẻ bi ai rất khó thấy, xong đã kịp quay ngay đầu ra ngoài song, nhìn những chùm tử vi nở rộ dưới nắng, giọng vẫn đều đều bình thản: “Từ đó đêm đêm trong vườn Tri Cẩm cứ nghe tiếng ma khóc nỉ non, nên phải đóng cửa vườn, xong dường như cũng từ đó, trong phủ thường xảy ra những việc kỳ quái… Ví như công chúa mơ thấy cây trâm Cửu loan bị mất, kết quả nó thực sự không cánh mà bay, công công bảo, một thứ quý giá nhường ấy, lại được bấy nhiêu người trông giữ nghiêm ngặt, thế mà vẫn biến mất, chẳng phải quái lạ lắm ư?”

Hoàng Tử Hà gật đầu, “Quả có thế, nhìn từ góc độ nào cũng rất vô lý.”

“Bởi vậy… ta cũng nghĩ, chẳng hiểu có phải oan hồn Đậu Khấu tác oai tác quái không…” Vi Bảo Hoành trầm ngâm nói thêm, “Có lẽ chỉ ma quỷ mới có thể lấy cây trâm đi được.”

“Đậu Khấu hầu hạ phò mã gần hai mươi năm, nếu biết được sau khi chết đi lại bị phò mã coi là ma quái, chẳng phải sẽ đau lòng lắm ư?” Hoàng Tử Hà hỏi thẳng.

Vi Bảo Hoành ngẩn ra, rồi đáp khẽ: “Có lẽ… nếu cô ấy chết quá oan uổng, quá đau đớn…”

Hoàng Tử Hà cụp mắt xuống, lặng thinh.

Lý Thư Bạch lại nói: “Tạm gác mấy chuyện ma quái sang một bên đã, ta muốn hỏi phò mã một việc, giờ Ngọ hôm qua, phò mã ở đâu?”

Vi Bảo Hoành thoáng sững sờ: “Giờ Ngọ, con đang ở phường Đại Ninh.”

“Chẳng hay phò mã đến phường Đại Ninh có việc gì?”

“Trụ trì Ngộ Nhân ở chùa Hưng Đường phường Đại Ninh là bậc đại đức. Gần đây trong phủ xảy ra chuyện, nên con đi mời ông ta tới tụng kinh siêu độ.” Hắn hồi tưởng lại, rồi kể rành rọt, “Sau khi hẹn trụ trì ngày giờ, con đi dạo loanh quanh trong chùa mấy vòng, không biết là đã muộn. Lúc rời chùa mới nghe nói trong phường xảy ra án mạng, con bèn tới xem, thấy Đại Lý Tự đã cử người đến tra xét nên đi thẳng về phủ.”

Hoàng Tử Hà hỏi: “Chẳng biết lúc loanh quanh trong chùa, phò mã có gặp ai không?”

Vi Bảo Hoành lắc đầu: “Chẳng phải ngày rằm mồng một nên vắng khách dâng hương, ta đi lòng vòng ở hậu viện một lát, không gặp ai cả.”

“Sau đó thì sao?” Lý Thư Bạch chậm rãi hỏi, “Trước khi phò mã rời phường Đại Ninh về phủ đó.”

Vi Bảo Hoành ngạc nhiên nhìn y: “Ý vương gia là…”

“Hôm qua khi ta từ nha môn trở về, ngang qua phường Đại Ninh, có trông thấy phò mã.” Lý Thư Bạch chẳng buồn giấu giếm, còn ung dung bồi thêm một câu, “Phò mã và Lữ Tích Thúy, đang trò chuyện.”

Vi Bảo Hoành biến sắc, không ngờ những lời mình nói với Tích Thúy lại lọt vào tai hai người này, mặt hắn hết đỏ lại tái, cuối cùng vẫn phải gật đầu thừa nhận: “Vâng… Trước đây khi chạy vạy dàn xếp vụ này, con từng gặp cô ta một lần.”

“Xong lời nói cử chỉ của phò mã với cô ta, dường như không giống chỉ gặp một lần.” Giọng Lý Thư Bạch vẫn lãnh đạm, không chút nể nang.

Vi Bảo Hoành thở dài, “Vâng… Dù sao cũng là phủ công chúa nợ cô ta, nên con muốn đối tốt với cô ta chút ít.”

Lý Thư Bạch lạnh lùng nhìn hắn, chẳng nói chẳng rằng.

“Lẽ nào chỉ vì con có mặt tại phường Đại Ninh, nói vài ba câu với Lữ Tích Thúy mà vương gia cho rằng con có liên quan tới cái chết của Tôn ghẻ?” Vi Bảo Hoành không còn đủ kiên nhẫn nữa, hớt hải biện bạch, “Vương gia nghĩ con phải đơn thương độc mã đến phường Đại Ninh giết một con ma bệnh ghẻ lở khắp người ư? Con chỉ cần dặn một câu thì tên Tôn ghẻ ấy sẽ chết đủ trăm kiểu, vương gia bảo có phải không?”

Lý Thư Bạch ngả người ra lưng ghế, ngắm Vi Bảo Hoành đang nhảy dựng lên cuống cuồng phân bua, chẳng buồn chớp mắt: “Vi phò mã cả nghĩ rồi, bản vương chỉ định nói rằng dù sao cũng là phò mã của Đồng Xương công chúa, lại hẹn gặp một cô gái trẻ buổi tối, có phần hơi thiếu suy nghĩ.”

Vi Bảo Hoành ngẩn người, bấy giờ mới ngồi phịch xuống ghế đáp khẽ: “Thưa vâng… con xin nhớ kỹ lời vương gia dạy bảo.”

Dùng dằng ở phủ công chúa hồi lâu, đã thấy hoàng hôn ngập trời.

Phò mã đích thân tiễn họ ra khỏi vườn Túc Vi, còn nơm nớp dặn: “Vương gia đi thong thả, con qua xem công chúa có cần gì con không.”

Lý Thư Bạch gật đầu: “Đi đi, gần đây trong phủ xảy ra nhiều chuyện như vậy, phò mã phải săn sóc công chúa thật kỹ, tốt nhất là đừng để Đồng Xương ra ngoài gặp gỡ người khác.”

“Vâng.” Vi Bảo Hoành cung kính vâng dạ.

Hoàng Tử Hà theo sau Lý Thư Bạch, men theo con đường nhỏ đi đến cửa ngách.

Phủ Quỳ vương ở phường Vĩnh Gia, cách phủ công chúa không xa, băng qua phường Hưng Ninh là tới. Phủ công chúa nằm ở khu Thập Lục Vương mé Đông Bắc thành Trường An, từ cửa Tây Nam đi ra là thông thẳng tới các phường trong kinh thành.

Thấy ráng hồng rực rỡ cuối trời như gấm thêu, hai người bất giác đi chậm lại, mặc xe ngựa phủ Quỳ đang đợi, cứ thế tản bộ trong phủ công chúa.

Ánh tà dương lan khắp phủ đệ xa hoa nổi tiếng nhất kinh thành, nào đài cao gác nhỏ, nào hành lang lầu hoa, đủ màu vàng xanh đỏ tím giao hòa ánh chiếu lẫn nhau, chẳng khác nào bồng lai tiên cảnh, nơi ở của thần tiên.

Xong những người sống ở đây, dường như ai cũng ôm đầy đau đớn và nuối tiếc, như vậy chẳng phải những đình đài lầu gác mỹ lệ kia đều uổng phí ư?

Hoàng Tử Hà đang nghĩ ngợi thì nghe giọng Lý Thư Bạch: “Phường Đại Ninh hôm qua quả là huyên náo, đúng như phò mã nói.”

Thấy y đột ngột nhắc đến chuyện hôm qua, cô vội quay lại nhìn y, khẽ gật đầu.

“Lúc Tôn ghẻ chết, những kẻ có liên quan đều tập trung ở phường Đại Ninh – từ Trương Hàng Anh, Lữ Tích Thúy, Lữ Chí Nguyên, Tiền Quan Sách, cho đến… Vi phò mã.”

“Nhất là mỗi người đều có lý do ra tay.”

“Ừm, nhưng ta nghĩ chắc ngươi cũng nhận ra, từ đầu phò mã đã mập mờ dẫn dắt chúng ta chú ý đến Đậu Khấu, ngươi nghĩ phò mã có dụng ý gì?”

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Lần đầu đến phủ công chúa, ngay trước mặt tôi và Thôi thiếu khanh, phò mã cũng cố tình nhìn về phía bức tranh đậu khấu cùng bài thơ treo trên tường, dẫn dắt sự chú ý của tôi, giờ lại khéo léo nhắc tới cái chết của Đậu Khấu.”

“Ta đã sai người đi nghe ngóng, quả thật bên cạnh phò mã có một thị nữ, lớn hơn mười tuổi tên Đậu Khấu.” Lý Thư Bạch nghỉ chân trên con đường nhỏ lát đá xanh vắng ngắt: “Từ nhỏ tới lớn săn sóc phò mã, hơn nữa phò mã còn khăng khăng không để cô ta lấy chồng, khi dọn đến phủ công chúa cũng đem theo. Tháng trước, cô ta chết đuối trong hồ nước ở vườn Tri Cẩm.”

Hoàng Tử Hà trầm ngâm gật đầu: “Xương Bồ cũng kể với tôi như vậy.”

“Còn một việc, có lẽ ngươi không biết.” Lý Thư Bạch phóng mắt nhìn ra trảng cỏ xanh mượt phía trước, lác đác những bông hoa nhỏ mùa hè đang khoe sắc tươi tắn, rồi từng bông từng bông lại héo tàn dưới cái nắng thiêu đốt, chẳng ai đoái hoài, “Nhà Đậu Khấu có đến mười mấy anh chị em, vì anh trai không có tiền cưới vợ, nên năm mười hai tuổi cô ta đã phải bán mình vào nhà họ Vi. Cô ta thông minh ngoan ngoãn, sau một năm thì được để hầu hạ phò mã, bấy giờ mới ba tuổi. Hai mươi năm qua, cô ta từ một con a đầu hạng bét trở thành người quan trọng nhất bên cạnh phò mã, xong chẳng dành dụm được gì cho mình, bởi trên cô ta còn bảy gã anh trai như đỉa hút máu, nhà nào cũng đòi cô ta cung phụng.”

Hoàng Tử Hà lặng lẽ gật đầu, lại nghe Lý Thư Bạch kể: “Chị gái cả của Đậu Khấu, lớn hơn cô ta hai mươi mấy tuổi, sau khi cô ta vào nhà họ Vi thì chị gái qua đời vì sinh khó, chỉ để lại một đứa con gái, tên là Lữ Tích Thúy.”

Hoàng Tử Hà kinh ngạc ngẩng lên: “Vậy bọn họ có liên lạc không?”

“Có vẻ rất hiếm. Bấy nhiêu năm nay Đậu Khấu vẫn nuôi các anh em, là bởi cô ta cho rằng, anh em trai mới là người nhà, còn chị gái đã gả đi tức là người ngoài rồi. Huống hồ chị em cách nhau chừng ấy tuổi, lúc cô ta ra đời thì bà chị đã gả cho Lữ Chí Nguyên, hai người cũng chẳng mấy khi gặp mặt. Sau khi mẹ Tích Thúy qua đời, mấy ông cậu đều là hạng ăn no lại nằm, còn bụng dạ nào để ý đến đứa cháu côi cút nữa. Những lúc Lữ Chí Nguyên hoặc Lữ Tích Thúy đến phủ công chúa đưa hương đèn, cũng chưa bao giờ chạm mặt Đậu Khấu, người trong phủ chẳng ai biết Đậu Khấu lại có mấy người họ hàng này. Lữ Chí Nguyên bao thầu tất cả đèn nến trong phủ công chúa, cũng không can hệ gì đến Đậu Khấu. Ngươi nghĩ nếu lão già đó biết chuyện, còn không tới tìm Đậu Khấu vòi vĩnh cái này cái khác ư?”

Hoàng Tử Hà gật đầu trầm tư: “Mẹ Tích Thúy và Đậu Khấu là chị em ruột, có lẽ hai dì cháu cũng giống nhau. Hẳn là vì vậy nên khi trông thấy Tích Thúy, công chúa mới bị hoảng loạn, bèn sai người đánh đuổi đi.”

“Bởi thế, cái chết của Đậu Khấu, ắt có liên quan tới công chúa.”

“Đúng vậy, lần đầu tiên nhắc tới Đậu Khấu, Thôi thiếu khanh cũng có mặt ở đó, nên phò mã cố ý bịa ra một câu chuyện rất dễ bị lật tẩy, hòng ám chỉ với tôi.” Hoàng Tử Hà nhíu mày.

Lý Thư Bạch chăm chú nhìn cô, khóe môi cũng nhếch lên thành một nụ cười như có như không: “Quan hệ giữa người với người thực đáng suy ngẫm, phải không nào?”

Hoàng Tử Hà lặng thinh gật đầu. Cả hai chẳng nói gì thêm, thong dong rời khỏi phủ công chúa. Cửa ngách đã ở trong tầm mắt, bên ngoài là phủ đệ của các vương và quan lại, vườn rộng sân sâu, vắng ngắt như tờ.

Lúc đến ngã rẽ ngay sát cửa ngách, họ bắt gặp một kẻ đi ngang qua ngoài cửa.

Vũ Tuyên.

Cô cứ ngỡ hắn đã ra về từ lâu, ai ngờ đến giờ mới đi, mà lại xuất hiện ngay trước mắt.

Bước chân cô bất giác khựng lại, tụt sau Lý Thư Bạch.

Nhưng Vũ Tuyên không hề nhận ra bọn họ. Nét mặt hắn cứ ngẩn ngơ, bước chân chệnh choạng khiến thân hình thanh thoát như cây ngọc cũng giảm bớt phần nào phong tư.

Lý Thư Bạch quay đầu nhìn cô, thấy cô đang ngỡ ngàng nhìn Vũ Tuyên, vẻ mặt chẳng rõ là kinh ngạc hay xót xa.

“Ngươi không tò mò ư?” Lý Thư Bạch ngừng một thoáng, rồi tiếp: “Đi nhìn xem hắn cầm gì trong tay.”

Hoàng Tử Hà vâng dạ, bấy giờ mới định thần lại, ngạc nhiên ngước nhìn y.

Xong Lý Thư Bạch đã xăm xăm đi về phía cỗ xe đang đợi ở cửa, buông một câu: “Về phủ báo lại.”

Hoàng Tử Hà đúng ngây ra tại chỗ, hồi lâu đành nhấc chân bám theo Vũ Tuyên.

Hồi ở Thục, cô cũng từng theo dấu nghi phạm, tuy giờ bước chân có hơi rối loạn, xong Vũ Tuyên đi đằng trước dường như lòng đang ngổn ngang trăm mối, nên chẳng hơi đâu để ý xung quanh.

Ở góc phố hoàng hôn, trong thời khắc vắng lặng như tờ, hắn cắm cúi đi trên con đường nối giữa hai phường Đại Ninh và Hưng Ninh, còn cô bám theo sau, trông thấy tay hắn cầm một phong thư.

Phong thư nọ màu đỏ nhạt, thi thoảng ánh tà dương rọi qua phía trên, có thể thấy thấp thoáng hoa văn kim nhũ lấp lánh ở góc, vô cùng mỹ lệ, thoạt trông đã biết là của nữ tử khuê các. Nhưng trên đó viết gì thì Hoàng Tử Hà không sao nhìn được.

Đến trước chùa Hưng Đường ở phường Đại Ninh, hắn dừng lại bên lò hương, mở phong thư đang cầm ra. Rồi chỉ nhìn lướt qua một lượt, hắn đã mím đôi môi hoàn mỹ, chậm rãi xé tan bức thư, bỏ tất cả vụn giấy vào lò hương, còn đứng chờ cho chúng cháy hết thành tro mới quay người, men theo phường An Hưng, đi thẳng về phía phường Vụ Bản, nơi đặt Quốc Tử Giám.

Đợi bóng Vũ Tuyên khuất hẳn ở khúc ngoặt, lại thấy trên đường không có ai qua lại, Hoàng Tử Hà mới hộc tốc chạy đến nhìn vào lò hương. Chất giấy viết thư rất dày, lại có hoa văn kim nhũ, dù đã cháy thành tro vẫn khá dày dặn, phất phơ lay động theo luồng khí bốc lên từ lò hương.

Hoàng Tử Hà bất giác giơ hai tay ra như bắt bướm, chụp lấy mảnh tro to nhất, giữ khư khư giữa hai lòng bàn tay.

Mảnh tro vẫn còn ấm, xong cô đã cẩn thận kéo ống tay áo lót trước vào lòng bàn tay để tránh bị mồ hôi thấm ẩm, rồi khum khum hai bàn tay lại, giữ lấy bí mật âm ấm này. Cô không dám cử động hai tay, chỉ sợ làm rách mảnh tro tàn, cứ thế chạy thục mạng về phía phường Sùng Nhân.

Đám canh cửa phủ Chu đã quá quen Hoàng Tử Hà, mời cô vào luôn.

Chu Tử Tần như thường lệ đang ngồi trong phòng mân mê mấy khúc xương, thấy Hoàng Tử Hà khum khum hai tay xộc vào thì giật nảy mình: “Sùng Cổ, hai tay làm sao thế kia? Bị người ta đóng đinh vào à?”

Cô rón rén mở hai tay ra, để lộ mảnh tro: “Công tử xử lý hộ tôi với.”

“… Tro giấy à?” Chu Tử Tần ngạc nhiên, “Ở đâu ra đấy?”

“Lò hương chùa Hưng Đường.”

Chu Tử Tần nghiêm mặt lại, ôn tồn bảo cô: “Sùng Cổ, để ta bảo công công chuyện này. Có bệnh thì phải đi khám thầy thuốc chứ, chẳng phải xưa nay công công không tin quỷ thần ư? Mấy chuyện nhảm nhí như là pha tàn hương vào nước uống cho mau lành bệnh, công công nhất định không được làm đâu đấy! Nếu công công làm thế, từ nay đừng hòng ta kính trọng công công!”

“Đây là một bức thư.” Hoàng Tử Hà ngán ngẩm chìa mảnh tro ra trước mặt gã, “Bên trong có manh mối quan trọng, tôi cần gấp. Nếu công tử có thể làm chữ trên đó hiện ra, tôi sẽ… mời công tử ăn cơm.”

“Ai thèm ăn cơm nữa.” Chu Tử Tần khinh khỉnh nói, đoạn nhẹ nhàng dùng một tờ giấy len vào giữa tay cô và mảnh tro, rồi khẽ khàng bứng mảnh tro sang mặt giấy.

“Vậy công tử muốn gì, nói đi.”

“Từ nay về sau, công công không được bỏ ta lại, tự mình đi tra án như trưa nay nữa.” Chu Tử Tần ra điều kiện.

Hoàng Tử Hà liền giải thích: “Trưa nay tôi phải tới phủ công chúa, công chúa không truyền gọi, tôi sao có thể dẫn theo người khác?”

“Hừm, công công không thể nói ta là trợ thủ của Đại Lý Tự phái đi hỗ trợ công công ư?” Chu Tử Tần trừng mắt nhìn cô.

Hoàng Tử Hà đành chịu thua: “Được rồi… Nếu không có tình hình gì đặc biệt, từ nay về sau tôi sẽ gọi công tử theo.”

“Hay quá!” Chu Tử Tần mừng ra mặt, vỗ bộp vào vai Hoàng Tử Hà, “Ta thích đi theo công công nhất đấy! Cứ theo công công là có thi thể!”

Hoàng Tử Hà đành vờ như không nghe thấy: “Vậy chữ trên mẩu tro kia…”

“Yên tâm, cứ giao cho ta!”

Chu Tử Tần múc một chậu nước, nhẹ nhàng đặt tờ giấy có mẩu tro lên mặt nước, rồi hết sức khẽ khàng rút lớp giấy bên dưới đi, chỉ để lại mảnh tro bập bềnh trên mặt nước.

Gã lại lục lọi trên cái giá cạnh đó hồi lâu, moi ra một chiếc lọ nhỏ, thận trọng rót dung dịch lục nhạt bên trong thành một vòng khép kín quanh mép mảnh tro, không quên giới thiệu: “Đây là ta làm theo lối cổ, dùng mấy trăm cân cải bó xôi nghiền nhỏ lọc lấy nước mới được chừng này, bình thường cũng tiếc của chẳng dám dùng đâu.”

Dung dịch từ từ loang ra, thấm vào mảnh tro. Dần dần, những nét chữ bắt đầu hiện lên trên nền tro đen, đó là vết mực còn đọng lại trên mẩu tro đang tan biến nhanh chóng, còn nhanh hơn cả tro tàn, nên màu sắc hiện lên cũng nhạt hơn.

Nét chữ chỉ nháy mắt là biến mất, như thể màu mực trên nét chữ bị tiêu biến trong tích tắc, tuy không rõ lắm, nhưng cũng vẫn đọc ra được.

Nguyệt… Hoa… Hoang… Chiếu… Duẫn…

Chu Tử Tần nhìn chằm chằm mấy chữ vừa hiện lên, gắng nhận mặt từng chữ một: “Thế này có nghĩa gì nhỉ?”

Hoàng Tử Hà cũng thẫn thờ nhìn năm chữ cái đã trắng nhợt ra, sắp mất hẳn, cuối cùng mảnh tro tàn cũng tan vào nước.

Cô chậm rãi nói khẽ: “Tôi nghĩ, chữ thứ ba là chữ ‘lưu’ bị mất một nửa, chữ thứ năm chắc là ‘quân’ bị mất một nửa…”

“Nguyệt hoa lưu chiếu quân…” Chu Tử Tần sực hiểu ra, “Là một câu trong bài Xuân giang hoa nguyệt dạ của Trương Nhược Hư!”

Cùng nghe ngóng lúc nay chẳng thấy,

Muốn theo trăng trôi chảy đến chàng.*

* Nguyên văn: “Thử thì tương vọng bất tương văn, nguyện trục nguyệt hoa lưu chiếu quân.” Ở đây sử dụng bản dịch của Tản Đà.

Chu Tử Tần ngẩng lên hỏi: “Là thư tình ư?”

Hoàng Tử Hà gật đầu, rồi lại lắc đầu. Cô chẳng biết nói sao, thẫn thờ ngồi xuống nhìn dấu tích mảnh tro tàn.

Dưới sự ăn mòn của dung dịch lục nhạt kia, mảnh tro đã tan thành bụi, dập dềnh loang ra trong nước.

Mấy con chữ còn sót lại cũng tan biến vĩnh viễn.

Chu Tử Tần vẫn chưa hết đắc ý: “Tuyệt lắm đúng không? Ta phát hiện ra nước cải bó xôi có thể tẩy sạch vết mực dây vào áo, sau đó lại đọc được trong sách cổ cách làm này. Sau khi nhỏ thứ nước này lên, nét mực trên giấy sẽ bị nước cải bó xôi tẩy sạch màu trước khi mảnh tro kịp tan ra. Tuy chỉ có một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để chúng ta nhận rõ mặt chữ. Ta lợi hại không nào?”

Hoàng Tử Hà miễn cưỡng gật đầu: “Lợi hại lắm.”

Thấy cô có vẻ là lạ, Chu Tử Tần vội hỏi: “Sùng Cổ làm sao thế? Sắc mặt công công hình như… rất khó coi.”

“Tôi… không sao.” Cô đáp khẽ, lại đưa mắt nhìn chậu nước giờ đã biến thành màu xanh sẫm, hít một hơi thật sâu, gắng bình tĩnh lại.

Thấy Chu Tử Tần vẫn lo lắng nhìn mình, cô vội né tránh ánh mắt gã, quay ra ngoài nhìn sắc trời rồi đứng dậy: “Đa tạ công tử giúp đỡ, tôi… đi đây.”

“Ăn cơm đã rồi đi, công công chạy tới chạy lui cả ngày, có được lúc nào ngồi yên ổn ăn bữa cơm đâu.”

“Không có thời gian đâu, vương gia đang đợi tôi về.”

Lúc về đến phủ Quỳ vương, thân tâm Hoàng Tử Hà đều rời rã.

Cô gắng xốc lại tinh thần, theo lệ tới báo cáo với Lý Thư Bạch nội dung phong thư.

Lý Thư Bạch ung dung vừa nghe vừa mân mê nghịch chiếc bình lưu ly. Nước trong bình dập dềnh, làm con cá nhỏ bên trong phải xòe đuôi gắng giữ thăng bằng.

“Chứng thực được lời đồn đại ngoài phố, đúng không nào?” Lý Thư Bạch nhìn con cá, giọng nói chỉ hơi gợn lên lăn tăn, như làn nước trong bình.

“Vâng…” Cô đáp khẽ.

Cuối cùng y cũng đưa mắt nhìn cô, lần đầu tiên ánh mắt lộ vẻ do dự và suy tính, tựa hồ định nói gì đó, nhưng lâu thật lâu, lại dời mắt nhìn đi chỗ khác, như đang an ủi cô, lại cũng như tự nói với mình: “Lời đồn thông thường chỉ phản ánh một phần sự thật, thậm chí còn có thể là tung hỏa mù thôi.”

Hoàng Tử Hà không hiểu câu này có ý gì, nghĩ ngợi mãi không ra, đành chuyển chủ đề hỏi: “Chẳng biết Đại Lý Tự có lấy được bức họa kia từ nhà Trương Hàng Anh không?”

“Không.”

Cô ngạc nhiên ngẩng lên.

“Lúc Đại Lý Tự đến, Trương Hàng Anh mở tủ ra thì bức họa đã biến mất.”

“Mất rồi ư?” Nhớ lại cảnh Trương Hàng Anh cuộn bức tranh lại cất đi, cô nhíu mày: “Cha Trương Hàng Anh rất quý bức họa ấy, có việc quan trọng mới treo lên thắp hương vái lạy, còn thường ngày đều cất trong tủ… Sao tự dưng lại mất được?”

“Người của Đại Lý Tự cho rằng gã cố ý không chịu giao nộp, cản trở điều tra nên đã lục soát cả nhà, xong cũng không tìm thấy. Vốn dĩ có thể gọi là trùng hợp, nhưng hiện giờ xem ra đúng là có vấn đề.”

Hoàng Tử Hà thoáng thấy bất an, liền hỏi: “Chẳng hay Đại Lý Tự định xử lý thế nào?”

Biết Hoàng Tử Hà lo cho Trương Hàng Anh, Lý Thư Bạch liếc cô rồi đáp: “Hôm nay Đại Lý Tự đã đến thẳng Tả Kim Ngô Vệ truyền gọi Trương Hàng Anh, ngày đầu tiên đến báo danh đã bị gọi đi, chắc ở Tả Kim Ngô Vệ cũng nhiều lời ra tiếng vào. Hiện giờ Tả Kim Ngô Vệ đã có lệnh, bảo gã tìm cho ra bức tranh ấy rồi hãy đến nha môn. Theo ta thấy, nếu không có cách nào tìm ra cho mau, chắc gã sẽ bị rầy rà đấy.”

Hoàng Tử Hà thầm thở dài: “Vâng, nô tài sẽ chú ý việc này.”

Lý Thư Bạch lại cầm một tập giấy cạnh đó lên đưa cho cô: “Đại Lý Tự gửi ngươi cái này, nghe nói là những việc lần trước ngươi nhờ họ tra xét.”

Hoàng Tử Hà nhận lấy, chưa cần xem cũng biết là chuyện lần trước cô nói với Chu Tử Tần, Trương Hàng Anh biết việc Tích Thúy có liên quan tới phủ công chúa từ khi nào.

Lúc trước gã nói rằng không biết chuyện đó, cũng không biết Ngụy Hỷ Mẫn.

Nhưng biên bản điều tra của Đại Lý Tự, giấy trắng mực đen, lại bác bỏ hoàn toàn những lời ấy.

Hoàng Tử Hà mím chặt môi, gom xấp biên bản lại: “Đã vậy e rằng tôi lại phải đến nhà họ Trương lần nữa rồi.”

Lý Thư Bạch vẫy tay: “Đi đi, chắc người của Tả Kim Ngô Vệ cũng biết ngươi cả rồi, không cần giấy giới thiệu của ta nữa.”

“Nếu không được thì còn lệnh bài của vương phủ mà.” Cô gượng cười đứng dậy định đi, nào ngờ bỗng thấy mắt tối sầm lại, ngã ngồi xuống đất.

Lý Thư Bạch phản ứng rất nhanh, một tay đẩy phăng chiếc bàn trước mặt ra, tay kia đỡ lấy Hoàng Tử Hà để cô khỏi đập đầu vào bàn rồi dìu cô nửa nằm nửa ngồi xuống thảm.

Đợi cho quầng đen trước mắt tan đi, Hoàng Tử Hà trông thấy Lý Thư Bạch đang đỡ mình, vội cựa quậy định đứng dậy, xong cả người đã bải hoải chẳng còn sức lực gì, đành nói khẽ: “Đa tạ vương gia… Chắc tôi mệt quá đấy thôi, nghỉ ngơi một lát là ổn.”

Cúi đầu nhìn gương mặt tái nhợt mà vẫn quật cường trong lòng, Lý Thư Bạch chẳng nói nửa lời, bế xốc cô lên đi thẳng vào giường rồi đặt xuống.

Thấy cặp mắt sâu thăm thẳm của y nãy giờ cứ chăm chú nhìn mình, cô cũng căng thẳng ngượng nghịu, đành nhìn lảng đi, nói nhỏ: “Thật ngại quá… Nô tài thất lễ rồi…”

“Là lỗi của ta.” Giọng y trầm trầm cắt ngang lời cô.

Nghe ra vô vàn điều bản thân không sao phân biệt được trong giọng nói của y, Hoàng Tử Hà kinh ngạc ngẩng lên.

Giọng y trầm thấp mà chậm rãi: “Ta quên mất… ngươi là nữ.”

Cô ngạc nhiên nhìn y hồi lâu mới đáp khẽ: “Không có gì, ngay cả tôi cũng quên khuấy từ lâu rồi.”

Nghe vậy y bỗng ngẩn ngơ, cứ đứng đó nhìn cô hồi lâu, bất động.

Thân hình nhỏ nhắn của cô nằm ngả trên giường trong bộ đồ hoạn quan áo đỏ đai đen. Mấy lọn tóc đen xõa xuống cổ cô, rồi lọt vào cổ áo, nổi bật trên làn da trắng muốt, rất bắt mắt, khiến người ta bất giác phải đưa mắt nhìn xuống, xuôi theo thân hình yểu điệu của cô.

Một luồng hơi nóng bỗng cuộn lên xốn xang trong lồng ngực. Y hiểu ra ngay, vội quay phắt đi, chẳng nói chẳng rằng trở về chỗ cũ.

Hoàng Tử Hà ngỡ ngàng nhìn y, chẳng hiểu vị vương gia xưa nay vẫn ung dung bình thản sao lại hành động thất thường như thế.

Cô ngả người nghỉ ngơi một lát, cảm thấy cơn choáng váng đã qua, bèn đứng dậy bảo Lý Thư Bạch: “Nô tài xin cáo lui, không dám quấy rầy vương gia nữa.”

Nhìn bước chân chệnh choạng của cô, y ngập ngừng mãi, tới khi cô ra đến cửa mới buông một câu: “Tối nay đừng đi tìm Trương Hàng Anh nữa.”

Cô ngạc nghiên ngoái lại.

“Ngươi liêu xiêu thế kia mà còn cố đi, chỉ sợ sáng mai lại phải cho người ra đường khiêng về.”

Hoàng Tử Hà phì cười: “Vậy mai nô tài sẽ dậy sớm đi.”

“Ừm.” Y đứng dậy, cùng cô rời đài Chẩm Lưu.

Hoàng Tử Hà chẳng hiểu y định đi đâu, đành thong thả bám theo sau.

Những cành thùy liễu bên bờ cứ rủ xuống vai và tay họ, sen hồng bát ngát nở rộ dưới trăng, y luôn cách cô nửa bước chân, giữ khoảng cách bất cứ lúc nào cũng có thể giơ tay ra đỡ lấy cô.

Hoàng Tử Hà sực hiểu ra, là y muốn đưa mình về.

Giữa màn đêm tĩnh mịch, vầng trăng trên cao cũng gần tròn, sáng rỡ.

Ánh trăng rờ rỡ ấy chảy dài trên người cô, cũng chảy dài trên người y.

Nhìn người đi trước, cách nửa bước chân, chỉ giơ tay ra là chạm đến, xong trong lòng cô, trong đầu cô, chỉ đau đáu nhớ đến câu thơ nọ.

Muốn theo trăng trôi chảy đến chàng.

Cứ thế cô lại thấy căm ghét bản thân đến tột đỉnh, lồng ngực đau thắt, đành siết chặt nắm tay, hít một hơi thật sâu, ép mình gạt những ký ức ấy ra khỏi đầu, từng chút từng chút một, không ngừng tự nhủ: Hoàng Tử Hà, từ bỏ quá khứ đi. Cha mẹ người thân đều chết cả rồi, nếu ngay cả chút việc cuối cùng cũng không thể làm cho họ, thì đáng bị trời tru đất diệt!