The Great Escape

Chương 6-1

Lucy dừng qua đêm tại nhà trọ Hampton ở trung tâm bang Illinois. Cô đăng kí phòng dưới một cái tên giả và trả bằng số tiền mặt mà cô mới rút từ chiếc thẻ ATM lấy ra từ phong bì và cô không hề nghi ngờ chút nào rằng ba mẹ có thể theo đó mà lần ra cô. Ngay khi vừa tới phòng, cô kéo chiếc bụng bầu giả gớm ghiếc ra từ dưới áo phông, quăng nó vào thùng rác, rồi lôi ra đống đồ cô mới mua vài giờ trước.

Cái ý tưởng tới với cô ở một trạm nghỉ ở gần biên giới bang Kentucky, nơi cô thấy hai cô gái ăn mặc theo phong cách Gothic bước ra từ một chiếc Chevy Cavalier. Cái lớp makeup đen sì với mái tóc lộn xộn khiến cô cảm thấy cái sự ghen tị không ngờ tới nhưng hoàn toàn tự nhiên mà có trỗi dậy, cái cảm giác cô nhớ lại ở trường cấp ba khi những cô cái có vẻ ngoài đôi chút lập dị lướt qua cô trên hành lang.

Sẽ sao nếu…

Mat và Nealy chưa bao giờ khiến cô cảm thấy mình cần phải hành động cho ra dáng một người có địa vị cao hơn so với người khác, nhưng ngay cả trước khi vụ lùm xùm về bữa tiệc say xỉn bị bắt thì cô đã biết điều đó, vậy nên cô thỏa mãn mấy thứ ham muốn bằng việc xỏ khuyên mũi, mặc những bộ quần áo theo phong cách funky ngập tràn màu sắc, cả việc ra ngoài chơi bời với mấy đứa mang tiếng bất hảo nữa. Đó sẽ là những ý tưởng tuyệt hay cho cô sau này.

Nhưng không phải bây giờ.

Cô kiểm tra lại phương hướng và sẵn sàng để bắt đầu hành trình.

Dù cho qua một đêm ngủ muộn nhưng sáng kế tiếp cô vẫn dậy sớm, dạ dày cô quặn lên bồn chồn. Cô cần phải quay xe lại và trở về nhà ngay lập tức. Hoặc là đi về phía tây. Cũng có thể là chuyến thám hiểm những bí mật hoang đường trên những tuyến đường dọc đường Route 66. Trí não cô đã quá mệt mỏi để có thể tìm hiểu thêm về bí ẩn của một vệ sĩ vừa cáu kỉnh, hay gắt gỏng lại hết sức khó hiểu nữa rồi. Và liệu rằng cô có thực sự tin rằng hiểu thêm về anh sẽ giúp cô hiểu thêm về chính bản thân mình?

Câu trả lời cô còn chẳng thể tìm ra nổi, vì vậy cô trèo khỏi giường, đi tắm táp qua loa rồi mặc lên bộ quần áo cô vừa mới mua lúc trước. Hình ảnh bông hoa hồng đỏ rực đổ máu trên chiếc áo phông đen bó sát hoàn hảo đụng chan chát với chiếc váy voan xòe bồng bềnh ngắn màu xanh lá, thứ được quấn quanh eo cô bằng một chiếc thắt lưng da đen với chiếc móc điệu đà. Cô đổi những đôi giày đế mềm của mình lấy những đôi giày combat đen và bộ móng tay mới được sơn đen toàn bộ.

Nhưng điều thay đổi lớn nhất là nằm ở mái tóc. Cô đã nhuộm hết chúng về đen. Rồi sau đó, theo hướng dẫn sử dụng của một loại keo vuốt tóc đặc biệt, cô tự cuốn lấy khoảng 6 cuộn tóc dreadlock ngẫu nhiên rồi phun một lớp màu cam lên. Giờ thì cô kẻ mắt mình bằng cây bút màu đen trông có chút nhem nhuốc, cuối cùng là kẹp một chiếc khuyên mũi. Một cô-nàng-nổi-loạn-tuổi-18 nhìn chằm chằm lại cô. Một cô nàng không có dù gì một chút dấu hiệu của một người đi vận động tranh cử chuyên nghiệp 31 tuổi hay một cô dâu bỏ trốn nào hết.

Một lúc sau đó, khi đi ngang qua hành lang dẫn tới chỗ để xe, cô giả vờ không để tâm tới những ánh mắt vụng trộm mà những người thuê nhà ở đó dành cho cô. Cho tới khi cô tới được chỗ để xe của mình, chiếc váy voan xòe đã khiến cho bắp đùi sau của cô trở nên ngứa ngáy. Đôi giày khiến cô không thoải mái còn lớp makeup có vẻ hơi chút quá đà nhưng cô bắt đầu thả lỏng.

Viper, cô nàng chơi xe.

-

Panda bắt đầu buổi sáng mới một vòng chạy quanh hồ.

Thường thì vẻ đẹp của bầu trời Chicago khiến đầu óc anh trở nên thư giãn nhưng hôm nay thì không như vậy.

Hai dặm dần thành ba dặm. Ba rồi bốn. Anh vươn tay thấm đi mồ hôi đang rịn trên trán, chiếc áo phông anh đang mặc cũng đã đẫm mồ hôi.

Anh đã trở lại nơi mình thuộc về, nhưng sau tất cả những yên ả nơi hồ Caddo, thành phố trở nên quá ồn ào, quá vội vã.

Hai tên ngốc đi giày trượt thành hàng đôi đang chắn đường anh. Anh chạy chếch sang phía rìa cỏ để vượt qua họ rồi sau đó sẽ chạy trên vỉa hè.

Lucy là một người phụ nữ thông minh. Cô đã nên nhìn ra được điều gì sẽ tới. Nhưng cô không hề và đó không phải là lỗi của anh. Anh đã làm tất cả những gì mình cần làm.

Như thường lệ, anh đã làm tổn thương nhiều người trong đời mình và giờ anh biết rằng anh lại tiếp tục làm tổn thương thêm một người nữa – anh biết chính xác mình đã vượt qua cái ranh giới kia bao xa – đó là điều khiến anh chẳng thể tha thứ nổi cho chính mình.

Một người đi xe đạp phóng tới. Anh tăng tốc, mong là có thể vượt được anh ta.

Bỗng nhiên, một tiếng nổ lớn xé rách bầu không khí. Anh trượt khỏi đường và ngã dụi xuống đất. Sỏi vụn cứa vào cằm và tay anh. Trái tim anh nện một cú mạnh vào xương sường còn bên tai anh như vang lên tiếng nổ ầm ầm.

Anh lắc đầu chầm chậm. Nhìn xung quanh.

Nó cũng không hẳn là một vụ nổ. Một chiếc xe tải cũ kỹ phát ra tiếng nổ máy lớn do động cơ bị đốt sớm.

Một người dắt chó chạy bộ dừng lại nhìn anh chằm chằm. Một người khác chậm lại. Chiếc xe tải biến mất sau đó, để lại một làn khói đen xì lơ lửng trên con đường Lake Shore Drive (đường chạy ven hồ Michigan, Chicago, Mỹ).

Chết tiệt. Đây không phải là thứ nên xảy ra với anh, nhưng hai tuần bên Lucy Jorik và hiện tại anh đang ở đây. Nằm sóng soài trên mặt đất.

Đất trong miệng anh. Coi như là thứ gì đó để nhớ về một lần anh cố gắng quên mất mình là ai và thuộc về đâu.

Nhiều dặm trôi qua, Lucy cứ chốc chốc lại liếc nhìn bản thân trong gương, nhìn cố làm quen với lớp trang điểm trên mặt mình, mái tóc đen tuyền và vài lọn dreadlock cam. Tâm trạng cô có khá lên đôi chút. Nhưng liệu cô có thực sự sẽ tiếp tục làm những điều này không? Ngay cả Ted, con người luôn khôn khéo trong mọi vấn đề, cũng không thể nào tưởng tượng được cô sẽ như thế này.

Đương nhiên là cô cũng chưa một lần nghĩ rằng mình sẽ trông như thế này, nhưng cô thích cái cảm giác được thử nghiệm một vẻ ngoài mới.

Cô nhanh chóng lái xe qua Illinois và hướng về Michigan. Liệu Ted có thể nào tha thứ cho cô? Còn gia đình cô thì sao?

Có thứ gì đó cô cần hơn cả sự tha thứ không?

Gần tới thành phố Cadillac, cô rời đường cao tốc rẽ vào đường dẫn tới phía bắc Michigan. Tới tối, cô đang xếp hàng với khoảng 6 chiếc xe khác ở phía trước để lên chuyến phà cuối cùng ra đảo Charity, nơi mà cô đã mất rất nhiều công sức để tìm được trên bản đồ. Cả người cô căng cứng, mắt mỏi rã rời và tâm trạng tốt từ sáng của cô cũng dần cạn kiệt. Những gì cô đang làm là hết sức điên rồ, nhưng nếu cô không làm nốt những gì còn dang dở, cô sợ rằng mình sẽ dành tất cả phần còn lại của cuộc đời mình trăn trở về Panda, về nụ hôn đó và tại sao cô lại chấp nhận lên giường với một người hoàn toàn xa lạ chỉ hai tuần sao khi cô chạy trốn khỏi đám cưới với người đàn ông dường như quá tốt đối với cô. Không có một lí do nào thực sự rõ ràng khiến cô thực hiện chuyến đi này, nhưng những ngày gần đây, cô đã không còn chính xác là mình nữa và đây là điều tốt nhất cô có thể làm.

Chiếc phà cũ kỹ, sơn đen với những đường vằn màu vàng, bốc mùi nấm mốc, đầy dây rợ và tốn nhiên liệu. Khoảng một tá người cùng là hành khách trên chuyến phà với cô. Một trong số họ, một cậu nhóc học đại học mang theo mình một chiếc balo lớn, đang cố bắt chuyện làm quen với cô bằng cách hỏi cô đang theo học trường nào. Cô nói với cậu ta rằng mình đã bỏ học trường đại học Memphis và rời khỏi nhà, đôi giày nặng trịch của cô nện xuống sàn tàu.

Cô ở nguyên trên boong trong cả phần còn lại của chuyến đi, ngắm nhìn hòn đảo dần dần hiện ra sau lớp ánh sáng mờ mờ. Nó có hình dáng gần giống một con chó đang nằm – cái đầu ở một bên, bến đỗ tàu trông giống phần bụng của nó, còn ngọn hải đăng mọc lên ở phía bên kia đảo trông giống như chiếc đuôi ngắn tũn vậy. Hòn đảo này nằm trong hồ Michigan, cách bờ khoảng 25 dặm ( khoảng 24 km), theo như trong cuốn sách du lịch ghi vậy. Nó kéo dài khoảng 10 dặm và rộng 2 dặm (16x3km) với dân số hiện đang sống trên đảo vào khoảng 300 người, con số sẽ tăng lên tới vài nghìn người vào mùa hè. Dựa theo số phòng thương mại hiện có, đảo Charity có thể cung cấp cho khách du lịch những bãi biển riêng tư, những ngôi nhà gỗ cổ xưa, câu cá và săn bắn, đồng thời còn có chuyến du lịch trượt tuyết và xe trượt tuyết vào mùa đông, nhưng cô chỉ quan tâm tới việc tìm lời đáp cho câu hỏi của chính mình.

Chiếc phà cập bến. Cô quay lại về phía chiếc xe thuê của mình. Cô có bạn bè trên khắp cả nước, cả toàn thế giới cũng có – những người sẽ sẵn sàng cho cô chỗ để ngủ nhờ. Cô vẫn đang ở đây, đợi đến lượt mình di chuyển lên bờ, cập bến một hòn đảo thuộc Great Lakes với động lực không gì cả ngoài một nụ hôn tạm biệt và một chiếc thẻ công dân. Cô lấy chiếc chìa khóa xe ra từ trong túi xách và tự nhủ với chính mình cô chẳng có việc gì hay ho hơn để làm với khối thời gian của mình, điều mà không thực sự là sự thật.

Cô có những việc cần phải được thực hiện, một cuộc sống cần được xây dựng lại, nhưng kể từ khi cô không biết phải làm cái này hay cái khác, cô tới đây.

Bến cảng đầy kín những con tàu đánh cá, cả những chiếc du thuyền lớn hiện đại và những chiếc cũ kỹ hơn được neo bên cạnh một chiếc xà lan nhỏ. Cô lái xuống con dốc thoải theo con đường rải sỏi tới bãi đỗ xe được rào xung quanh và đề một tấm biển BẾN CẢNG THÀNH PHỐ. Con đường chính – hai làn – mang một cái tên có chút lạc quan – Beachcomber Boulevard (con đường của những người sống lang thang ven bờ biển) – với những cửa hàng đa dạng nằm san sát, một số đã bị bào mòn bởi thời tiết, số khác thì được sơn với những màu sắc tương sáng cùng những món đồ được bày biện bắt mắt dễ thấy qua lớp kính cửa sổ nhằm thu hút khách du lịch – tiệm đồ tạp hóa địa phương của Jerry, cửa hàng của McKinley, một vài tiệm ăn, đôi ba cửa tiệm bánh, một ngân hàng và một trạm cứu hỏa. Vài tấm biển nhỏ được dựng dọc theo con đường quảng cáo về dịch vụ dạy câu cá, và tiệm dụng cụ câu của Jake mời khách thăm quan tới “Khám Phá Bãi Xác Tàu Đắm Gần Đây.”

Giờ cô ở đây, hoàn toàn không có chút ý tưởng tiếp theo sẽ phải tới đâu.

Cô lái xe vào một bãi đậu nằm cạnh một quán bar có tên The Sandpiper – Chim Dẽ. Khi cô bước vào bên trong, thật không khó để phân biệt người bản địa với những vị khách du lịch với làn da rám nắng – những người có cái nhìn vẻ hơi chút đờ đẫn của sự mệt mỏi sau khi đi thăm thú cả ngày dài.

Trong khi họ co cụm với nhau quanh những chiếc bàn nhỏ bằng gỗ thì những người bản xứ ngồi ở quầy.

Cô đi về phía quầy – nơi người pha chế đang nhìn cô với ánh mắt nghi ngờ. “Ở đây chúng tôi chỉ tiếp người đã thành niên.”

Nếu cô chưa mất đi cái thú hài hước của mình thì hẳn cô đã cười. “Vậy một lon nước ngọt thì sao?”

Khi anh ta mang cho cô đồ uống, cô nói, “Tôi đang định tới ở nhà người này nhưng tôi lại mất địa chỉ anh ta rồi. Anh biết ai với cái tên hay gọi là Panda không?”

Những người dân địa phương bỏ qua đồ uống của họ mà ngẩng lên nhìn cô.

“Hình như tôi có biết,” người pha chế nói. “Làm sao cô biết anh ấy?”

“Anh ấy… đã làm một số việc cho một người bạn của tôi.”

“Kiểu việc như thế nào cơ?”

Đó là lúc cô phát hiện ra rằng Viper là một người không có chút lịch sự nào.

“Anh có biết anh ta hay không?”

Người pha chế nhún vai. “Thỉnh thoảng có thấy anh ta.” Anh ta bỏ đi trả lời những vị khách khác.

May mắn cho cô là có một cặp đôi lớn tuổi ngồi phía đầu của quầy bar có vẻ thích nói chuyện hơn. “Anh ta xuất hiện ở đây vài năm trước và mua một căn Remington cũ kỹ nằm ở Goose Cove,” một người lên tiếng. “Hiện anh ta đang không có trên đảo. Tôi biết chắc là anh ta không tới bằng máy bay, còn nếu anh ra tới bằng phà hay du thuyền thì chắc hẳn một trong số chúng tôi đã phải nghe nói về điều đó.” Cuối cùng cũng có đôi điều khiến cô cảm thấy may mắn. Có thể cô sẽ tìm thấy câu trả lời cho mình mà không cần phải gặp lại anh lần nữa.

Người đàn ông lớn tuổi duỗi tay trên quầy. “Anh ta không nói nhiều lắm. Kiểu dạng có vẻ không quan tâm đời lắm. Chưa bao giờ nghe nói anh ta làm công việc gì.”

“Đúng, đó chính là kiểu của anh ta,” Viper nói. “Goose Cove có xa đây không?”

“Hòn đảo chỉ kéo dài có 10 dặm,” người ngồi cùng lên tiếng. “Chẳng có nơi nào quá xa chỗ này cả, mặc dù một số nơi thì mất công để tới hơn những nơi khác.”

Hướng họ chỉ cho cô rất rắc rối với hàng loạt những đoạn rẽ lộn xộn, với những điểm mốc như là một nhà đậu thuyền, một cái cây chết khô và một tảng đá lớn được một ai đó tên là Spike sơn lên một hình biểu tượng hòa bình. 15 phút sau khi rời khỏi quán bar, cô hoàn toàn tuyệt vọng và bị lạc. Cô lái xe không chủ đích một lúc rồi cuối cùng quyết định quay lại đường chính, nơi cô dừng xe tại một tiệm ăn đang chuẩn bị đóng cửa và nhận được một chỉ dẫn khác cũng chẳng kém phần rắc rối.

Trời đã tối khi cô nhìn thấy cái hòm thư xiêu vẹo với cái tên REMINGTON mờ mờ không còn nhìn rõ trên tấm gỗ treo phía trên. Cô rẽ vào con đường mấp mô toàn ổ gà, ổ voi và đỗ xe trước bậc thềm cánh cửa gara.

Một căn nhà lớn, thoải mái bên bờ biển có vẻ giống như dành cho những quý tộc thời xưa, nhưng qua năm tháng, nó đã được mở rộng một cách bừa bãi với một hành lang ở bên này, một phần sân ngoài trời với một hành lang khác ở bên kia và một phòng nhỏ được cơi nới ra ở bên cạnh. Mái ngói của căn nhà có màu gỗ cũ, với hai cái ống khói nhô ra từ lớp mái lộn xộn.

Cô không thể nào tin nơi này thuộc về Panda. Đây là một căn nhà được thiết kế cho mái ấm gia đình – nơi những đứa trẻ với nước da rám nắng chạy nhảy nô đùa cùng nhau trên bãi biển, để mẹ chúng ngồi cùng nhau tám chuyện trong khi những ông chồng nhóm lửa trên bếp nướng, là nơi ông bà chúng trộm ngủ một giấc trên hành lang râm mát và những chú chó lười biếng nằm dài ra sưởi nắng. Panda thuộc về một căn nhà sập sệ nơi mấy người đi câu hay chọn lựa đến ở chứ không phải nơi này. Nhưng địa chỉ hoàn toàn trùng khớp, người đàn ông lúc trước cũng có nhắc tới cái tên Remington.

Cánh cửa trước không có ấn tượng gì quá đặc sắc nằm bên phải gara đỗ vừa 2 chiếc xe. Phía trước thềm, những chậu gốm nhỏ sứt mẻ đựng bên trong lớp đất đã khô tới nứt cả ra và một lá cờ Mỹ phai màu chắc đã được cắm lên từ ngày 4 tháng 7 của một năm rất lâu rồi. Cánh cửa bị khóa. Cô men theo lối đi đã bị cỏ mọc cao che khuất dần về phía mặt nước, nơi cô phát hiện ra điểm nhấn của căn nhà – một phần thềm mở rộng có lan can, một phần sàn mở và những chiếc cửa sổ nằm ngang liên tiếp đối mặt với phần vịnh được bảo vệ của hồ Michigan phía xa.

Cô quay ngược trở lại vòng quanh ngôi nhà để tìm đường vào, nhưng mọi thứ đều được khóa cẩn thận. Trên đường tới đây cô đã thấy vài quán trọ nhỏ, và một số căn nhà cho thuê phòng qua đêm, vì vậy nơi đây có rất nhiều chỗ để ngủ. Nhưng đầu tiên cô muốn khám phá bên trong căn nhà.

Cô leo qua một phần lan can đã bị sập mất của phần thềm và nới lỏng chiếc móc chốt cửa. Sàn nhà phát ra tiếng cọt kẹt khi cô lách người đi qua những chiếc ghế dài được bày ở đó để nằm nghỉ cùng những chiếc gối đã xanh nấm mốc từng có mang màu xanh hải quân. Một chiếc chuông gió đã hỏng làm từ những chiếc thìa treo một góc, một chiếc tủ lạnh bị bỏ quên từ lâu ở một góc khác. Cửa vào nhà vẫn bị khóa nhưng điều đó không ngăn Viper lại. Cô đập vỡ một phần cửa kính vuông bằng chiếc bay làm vườn rỉ sét, mò tay vào trong và mở khóa.