Sức Mạnh Tiềm Thức

Chương 4: Chữa Trị Tinh Thần Trong Thời Cổ

Nghĩ đến điều lành, điều lành sẽ tới.
Nghĩ đến điều dữ, điều dữ sẽ theo.
Bạn chính là những gì bạn nghĩ.

Qua các thời đại, con người sống ở khắp các lục địa, trong các miền khí hậu, tiếp thu mọi nền văn hóa, bằng bản năng, họ biết rằng đâu đó có tồn tại một năng lực chữa lành có thể khôi phục khả năng và chức năng của một người trở lại trạng thái bình thường. Họ tin rằng quyền năng kỳ lạ này có thể được khơi gợi dưới những điều kiện nhất định và nếu được khởi phát thích đáng, nỗi thống khổ của con người sẽ được nguôi dịu. Lịch sử của tất cả các dân tộc đã củng cố tính xác đáng cho niềm tin này.

Trong buổi bình minh của lịch sử thế giới, người ta cho rằng các thầy tu, nữ tế và những người mộ đạo được sở hữu những năng lực tác động đặc biệt. Những người này khẳng định họ sở hữu quyền năng được Thượng đế trực tiếp ban cho, kể cả năng lực chữa lành bệnh. Các phương thức và quá trình chữa trị khác nhau theo từng vùng trên thế giới, nhưng nói chung chúng gồm những lời thỉnh cầu, vật tế thần, các nghi lễ khác nhau như quỳ phủ phục trên hai bàn tay và niệm thần chú, sử dụng bùa hộ mạng, phù, nhẫn, thánh tích…

Chẳng hạn, theo các tôn giáo cổ xưa, thầy tế sau khi cho bệnh nhân uống thuốc sẽ đọc những lời ám thị thôi miên trong thời gian bệnh nhân ngủ. Họ nói với bệnh nhân rằng thần linh chắc chắn sẽ đến thăm họ trong giấc ngủ và chữa lành bệnh cho họ. Trên thực tế, nhiều trường hợp đã được chữa lành.

Những tín đồ của nữ thần Hecate thường trộn lẫn những con thằn lằn với nhựa thông, hương trầm và nhựa thơm rồi tán nhuyễn chúng giữa trời thoáng đãng, dưới ánh trăng lưỡi liềm để làm thuốc chữa bệnh. Sau khi thực hiện những nghi thức kỳ dị và huyền bí này, họ cầu nguyện với nữ thần, uống thứ kỳ dược họ vừa bào chế, rồi đi ngủ. Nếu niềm tin của họ đủ mạnh, họ sẽ gặp nữ thần trong giấc mơ. Nghi lễ này nghe qua thật kỳ lạ, thậm chí quái dị, nhưng nó cũng đã chữa lành cho nhiều trường hợp.

Nhìn chung, những người sống vào thời xa xưa đã thực hiện rất nhiều phương thức để tận dụng sức mạnh lạ thường của tiềm thức và vận dụng nó cho việc chữa trị. Tuy nhiên, họ chỉ đơn giản biết rằng nó có phát huy tác dụng chứ tuyệt nhiên không hiểu tại sao nó lại hữu hiệu như vậy. Ngày nay, chúng ta hiểu rằng họ đã vận dụng sức mạnh của sự ám thị đối với tiềm thức. Nghi thức, kỳ dược và bùa hộ mạng khơi gợi sức tưởng tượng của con người một cách mạnh mẽ, giúp tiềm thức đón nhận những lời ám thị do người chữa bệnh đưa ra. Nhưng thực chất, công việc chữa lành do chính tiềm thức của bệnh nhân thực hiện.

Trong mọi thời đại, những người chữa trị “không chuyên” theo dạng này đã đạt được một số kết quả đáng chú ý trong những ca bệnh mà ngay cả kỹ thuật y khoa chính thống cũng thất bại. Điều này đặt ra một vấn đề khiến chúng ta phải suy nghĩ. Họ đã làm điều đó như thế nào? Phép chữa lành đó đã hoạt động ra sao? Câu trả lời không quá khó. Chính niềm tin của người bệnh đã phóng thích sức mạnh chữa trị cư ngụ trong tiềm thức, khiến những điều kỳ diệu xảy ra. Những phương thuốc hoặc biện pháp chữa trị càng kỳ quái và đặc biệt, bệnh nhân càng dễ tin bởi họ thường nghĩ rằng bất kỳ cái gì lạ lùng hẳn phải có quyền năng khác thường. Ngoài ra, chính tâm trạng phấn khích và niềm kỳ vọng sâu xa trong họ khiến họ càng dễ dàng tiếp nhận những lời ám thị về sự khỏe mạnh, trong cả ý thức lẫn tiềm thức.

 

Phép lạ liên quan đến những nơi thiêng trên thế giới

Trên mọi lục địa, ở mọi vùng đất, có nhiều nơi được tương truyền là rất linh thiêng từng xảy ra những phép chữa lành mầu nhiệm. Nhiều cái tên nổi tiếng khắp thế giới, chẳng hạn như suối thánh Lourdes, nhưng cũng có nơi chỉ được người dân sống ở những vùng lân cận biết đến. Dù nổi tiếng hay vô danh, nhưng phép chữa lành tại những nơi thiêng ấy đã xảy ra đều nhờ vào năng lực của tiềm thức.

Tôi từng đến thăm nhiều đền điện nổi tiếng ở Nhật Bản. Trung tâm điểm của ngôi đền Daibutsu nổi tiếng thế giới là một bức tượng đồng khổng lồ, cao 12,8 mét. Nó miêu tả hình ảnh Đức Phật ngồi chắp tay, đầu Ngài cúi xuống trong một trạng thái xuất thần nhập định hoàn toàn.

Nơi đây tôi thấy những thiện nam tín nữ đủ mọi lứa tuổi đang dâng lễ cúng dưới chân tượng, gồm tiền, hoa quả, gạo và cam quýt. Họ lui cui thắp nến, đốt hương và lầm rầm khấn nguyện. Tôi lắng nghe giọng trầm bổng của một thiếu nữ đang cúi đầu và dâng cúng mấy quả cam. Cô đang cảm tạ Đức Phật đã khôi phục giọng nói cho mình. Cô bị tắt tiếng, nhưng sau đó đã được khôi phục sau khi dâng cúng và khấn nguyện tại điện thờ này. Cô tin rằng Đức Phật sẽ ban lại cho cô giọng nói nếu cô làm theo một nghi lễ nhất định, trai tịnh và cúng tiến lễ vật. Điều đó đã thổi bừng lên trong cô sự kỳ vọng và niềm tin mãnh liệt. Chính niềm tin đó đã đẩy trạng thái tinh thần của cô đạt đến mức độ của lòng tín mộ. Và tiềm thức của cô đã hưởng ứng với lòng tín mộ đó.

Một ví dụ khác là trường hợp một người bà con của tôi ở Perth, miền tây nước Úc, bị bệnh lao phổi. Hai lá phổi của ông bị suy yếu trầm trọng. Con trai ông đã quyết định giúp cha tự chữa bệnh. Anh đến gặp cha và bảo với ông rằng gần đây anh có biết một thầy tu có năng lực kỳ lạ. Vị tu sĩ này vừa mới trở về sau một chuyến lưu chân rất lâu tại một trong những nơi linh thiêng nổi tiếng nhất ở châu Âu. Đó cũng là nơi ông đã tìm được một mảnh nhỏ của chiếc Thánh giá Thực, được đính vào chiếc nhẫn có niên đại từ thời Trung cổ. Qua nhiều thế kỷ, rất nhiều người bệnh đã được chữa lành sau khi chạm vào chiếc nhẫn hoặc mảnh Thánh giá Thực. Người con trai còn nói rằng anh đã kể với vị tu sĩ về căn bệnh của cha và nài nỉ ông cho mượn chiếc nhẫn. Vị tu sĩ kia đã đồng ý. Để đáp lại tấm lòng của vị tu sĩ, người con trai đã tự nguyện tặng ông một lễ vật tương đương 500 đô-la.

Khi người con trai đưa cho cha xem chiếc nhẫn, ông già gần như đã giật lấy nó. Ông áp chặt chiếc nhẫn vào ngực, thầm thì cầu nguyện, và rồi ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau khi thức dậy, ông cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh. Tất cả những xét nghiệm lâm sàng đều cho kết quả âm tính.

Những điều kỳ lạ như thế vẫn thường xảy ra. Nhưng điều đáng nói nhất ở đây là câu chuyện về vị tu sĩ mà người con trai kể cho cha nghe là hoàn toàn bịa đặt. Thật ra, anh ta đã nhặt một mảnh gỗ thường bên lề đường, đưa nó cho người thợ kim hoàn và nhờ đính vào một chiếc nhẫn kiểu cổ. Sau đó anh đưa nó cho cha mình.

Tất nhiên, chúng ta đều biết không phải mảnh gỗ bình thường kia đã trị lành bệnh cho người cha mà chính trí tưởng tượng của ông bị kích thích đến mức cực cùng cộng với niềm kỳ vọng mãnh liệt về một sự chữa lành hoàn toàn đã làm nên điều kỳ diệu. Sức tưởng tượng kết nối với niềm tin, và sự liên kết này dẫn đến một sự chữa lành thông qua sức mạnh của tiềm thức.

Người cha không bao giờ phát hiện ra trò lừa gạt của con trai. Nếu biết, bệnh của ông có thể sẽ tái phát. Nhưng chính vì nghĩ và tin rằng chính chiếc nhẫn thần diệu kia đã chữa lành cho mình mà chứng lao phổi của ông đã được chữa khỏi hoàn toàn. Ông đã sống hoàn toàn khỏe mạnh và mười lăm năm sau thì qua đời do những nguyên nhân khác, ở tuổi tám mươi chín.

Hãy nhớ rằng niềm tin giống như một hạt giống được gieo vào đất; nó sẽ phát triển theo đúng chủng loại của mình. Hãy gieo ý niệm (hạt giống) trong đầu, tưới nước và bón phân cho nó với niềm hy vọng lớn lao, và nó sẽ đơm hoa kết trái.

Nguyên lý chữa lành phổ quát

Trong phép chữa lành bằng sức mạnh của tiềm thức, hãy nhớ rằng cơ quan chữa lành chính là tiềm thức, và tiến trình chữa lành chính là niềm tin.

Hãy nghĩ kỹ về những sự thật căn bản này:

  • Bạn sở hữu những chức năng tinh thần đã được phân biệt rõ ràng, một là ý thức và cái còn lại là tiềm thức.
  • Tiềm thức luôn phục tùng sức mạnh của sự ám thị.
  • Tiềm thức hoàn toàn kiểm soát các chức năng, trạng thái, và các giác quan của cơ thể.

Chắc hẳn bạn biết rằng có thể dùng ám thị để gây ra các triệu chứng của hầu hết mọi chứng bệnh ở các đối tượng bị thôi miên. Chẳng hạn, một người đang trong tình trạng bị thôi miên có thể bị làm cho tăng thân nhiệt, đỏ mặt hoặc ớn lạnh tùy theo bản chất của lời ám thị đưa ra. Thậm chí nếu bạn ám thị với họ rằng họ bị liệt và không thể đi được, tức thì họ sẽ thể hiện y như vậy. Nếu đưa một cốc nước lạnh ngay mũi người bị thôi miên và bảo anh ta: “Cái này đựng đầy tiêu; hãy ngửi đi!” anh ta sẽ hắt hơi dữ dội. Thế bạn nghĩ cái gì đã làm cho anh ta hắt hơi? Nước, hay là lời ám thị?

Nếu anh ta cho bạn biết anh ta bị dị ứng với cỏ đuôi mèo, bạn có thể đặt một bông hoa giả hoặc một cái ly không trước mũi anh ta, khi anh ta đang trong trạng thái bị thôi miên, bạn bảo anh ta rằng đó chính là cỏ đuôi mèo. Anh ta sẽ xuất hiện những triệu chứng dị ứng thường thấy. Điều này chứng tỏ rằng căn cơ của những triệu chứng là ở tiềm thức, và vì thế việc khắc phục những triệu chứng này cũng xảy ra trong tiềm thức.

Những trường phái y học khác nhau như thuật nắn xương, khí công, thuật châm cứu và thiên nhiên liệu pháp đều mang lại những hiệu quả chữa trị ấn tượng; cả các nghi lễ và nghi thức thuộc tín ngưỡng tôn giáo khác nhau trên thế giới cũng vậy. Rõ ràng là các phép chữa trị này đều có liên quan đến năng lực chữa lành của tiềm thức.

 

Những nguyên lý trị liệu khác nhau

Các giáo phái tôn giáo và các nhóm theo đuổi những liệu pháp cầu nguyện khác nhau đã đưa ra nhiều lý thuyết trị liệu khác nhau. Không ít người tuyên bố rằng vì phương pháp của họ hiệu quả, do đó lý thuyết trị liệu của họ hẳn phải chính xác hơn cả. Nhưng qua những gì chúng ta đã tìm hiểu, nhận định này không thuyết phục.

Có khá nhiều kiểu trị liệu khác nhau. Franz Anton Mesmer (1734-1815), một bác sĩ người Đức từng có thời gian làm việc tại Paris, đã phát hiện ra rằng ông có thể chữa lành bệnh cho bệnh nhân chỉ bằng cách áp nam châm lên cơ thể người bệnh. Ngoài ra, ông còn thực hiện chữa trị bằng những mảnh thủy tinh và kim loại. Về sau, ông không dùng đến nam châm, thủy tinh hay kim loại để chữa bệnh nữa mà thay vào đó, ông áp hai tay mình lên cơ thể bệnh nhân. Ông khẳng định nguồn trị liệu đích thực trong phép chữa bệnh của ông chính là cái mà ông gọi là “từ lực động vật.” Ông cho rằng trong phép chữa trị này, một thực thể từ tính bí ẩn nào đó đã được truyền từ bàn tay người chữa bệnh qua cơ thể bệnh nhân.

Mesmer đã dùng tên mình đặt cho phương pháp trị bệnh này; và ngày nay chúng ta biết đến nó như là thuật thôi miên. Những bác sĩ khác vì đố kỵ với thành công của Mesmer đã quả quyết rằng phép trị liệu của ông chỉ là ám thị chứ chẳng có gì hơn. Tuy phát biểu mạnh miệng, nhưng họ phải thú nhận rằng họ không biết bằng cách nào mà sức mạnh của sự ám thị lại có thể tạo nên những kết quả đáng kinh ngạc như vậy.

Các nhóm chuyên gia tâm thần, các nhà tâm lý học, những người nắn xương, bác sĩ và các nhóm tôn giáo khác nhau đều đang vận dụng một sức mạnh phổ quát nằm trong tiềm thức. Mỗi nhóm đều có thể tuyên bố hiệu quả của phép chữa lành là do lý thuyết của mình, nhưng sự thật thì không hẳn vậy. Tiến trình của mọi sự chữa lành chính là một trạng thái nội tâm, trạng thái tinh thần, hay một lối suy nghĩ rõ ràng, tích cực gọi là niềm tin. Sự chữa lành xảy ra là do niềm hy vọng mãnh liệt tác động như một lời ám thị mạnh mẽ đối với tiềm thức, từ đó phóng thích sức mạnh chữa lành của nó.

Khả năng chữa lành bệnh của người này có thể không khác gì so với người khác. Đúng là nhiều người có thể có những lý thuyết hoặc phương pháp riêng của mình, nhưng chỉ có một tiến trình chữa lành duy nhất, đó là niềm tin; và chỉ có một sức mạnh chữa lành duy nhất, đó là sức mạnh của tiềm thức. Hãy lựa chọn lý thuyết, niềm tin và phương pháp nào có sức lay động nhất đối với bạn. Hãy vững tin rằng nếu có lòng tin, bạn sẽ nhận được kết quả mong muốn.

 

Thí nghiệm của Bernheim

Hippolyte Bernheim (1840 – 1919) là giáo sư y khoa tại Nancy, Pháp. Ông là một trong những người đầu tiên giải thích sự ám thị của các nhà trị liệu phát huy tác dụng thế nào đối với bệnh nhân thông qua tác động của tiềm thức.

Bernheim cũng lấy câu chuyện về một người đàn ông bị đớ lưỡi làm ví dụ. Bệnh nhân này đã áp dụng rất nhiều biện pháp điều trị nhưng tất cả đều vô hiệu. Thế rồi một ngày nọ, bác sĩ của ông tuyên bố mình đã tìm hiểu về một công cụ chữa bệnh mới chắc chắn sẽ rất hiệu nghiệm. Đoạn vị bác sĩ đặt một nhiệt kế nhỏ vào miệng bệnh nhân. Người bệnh ngỡ rằng đấy chính là dụng cụ có thể chữa hết bệnh cho mình, vài phút sau ông ta reo lên vui sướng và nói rằng lưỡi mình đã có thể cử động lại bình thường.

Bernheim nói tiếp:

Trong các ca bệnh mà tôi từng trực tiếp điều trị cũng có không ít trường hợp tương tự. Một cô gái trẻ sau bốn tuần bị tắt tiếng đã tìm đến văn phòng của tôi nhờ tôi điều trị. Sau khi chẩn đoán kỹ lưỡng, tôi nói với các sinh viên của tôi rằng đối với chứng tắt tiếng, chúng ta có thể dùng dòng điện để chữa trị. Thật ra, điều tôi nói chỉ có tác dụng như một sự ám thị. Tôi nhờ người mang đến một bộ thiết bị cảm ứng. Tôi áp tay lên thanh quản của cô gái và di chuyển một chút rồi nói: “Bây giờ cô có thể nói to lên.” Ngay lập tức, cô nói “a”, rồi “b”, rồi “Maria.” Cô gái cứ thế tiếp tục nói theo bản năng, và rồi chứng tắt tiếng đã biến mất.

Ở đây, Bernheim đang chứng tỏ sức mạnh của lòng tin và sự kỳ vọng của bệnh nhân, vốn tác động như một sự ám thị mãnh liệt đối với tiềm thức.

 

Ám thị gây ra những đốm xuất huyết

Có thể dùng ám thị để gây ra chứng xuất huyết.

Để chứng minh điều này, tiến sĩ H. Bernheim đã thôi miên một người, sau đó truyền cho anh ta lời ám thị sau:

Vào bốn giờ chiều nay, sau đợt thôi miên, anh sẽ vào văn phòng của tôi, ngồi xuống ghế bành và khoanh hai tay trước ngực. Lúc đó mũi anh sẽ bắt đầu chảy máu.

Chiều hôm đó, người thanh niên đã hành động đúng như những gì mà tiến sĩ Bernheim đã nói. Sau khi khoanh hai tay trước ngực, vài giọt máu đã chảy ra từ lỗ mũi trái của anh.

Một lần khác, Bernheim đã viết tên một bệnh nhân lên hai cẳng tay anh ta bằng đầu cùn của một dụng cụ trong lúc bệnh nhân đang trong trạng thái thôi miên. Đoạn Bernheim nói:

Vào lúc bốn giờ chiều nay anh sẽ đi ngủ. Hai tay anh sẽ chảy máu theo những đường nét tôi đã vạch, và tên anh sẽ hiện lên với những mẫu tự bằng máu.

Bệnh nhân được theo dõi kỹ lưỡng trong chiều hôm đó. Vào lúc bốn giờ anh ta thiếp ngủ. Trên tay trái của anh ta bắt đầu nổi lên những vệt máu tươi, thậm chí còn có vài giọt máu rỉ ra ở vài chỗ. Ba tháng sau, mặc dù đã phai dần, nhưng những chữ cái đó vẫn còn hiện lên mờ mờ.

Những sự kiện này chứng tỏ tính đúng đắn của cùng lúc hai định đề cơ bản được trình bày trước đó; cụ thể là sự phục tùng thường xuyên của tiềm thức đối với sức mạnh ám thị và sự kiểm soát hoàn toàn của tiềm thức đối với những chức năng, giác quan và tình trạng cơ thể.

Tất cả những hiện tượng nói trên chứng tỏ sự ám thị có thể gây ra những điều dị thường. Chúng là bằng chứng thuyết phục khẳng định rằng thâm tâm (tiềm thức) một người nghĩ thế nào thì anh ta sẽ thế ấy.

 

Điểm lại những ý cần nhớ

  1. Hãy thường xuyên nhắc nhở bản thân rằng sức mạnh chữa lành nằm trong tiềm thức.
  2. Hãy nhớ rằng lòng tin như một hạt giống gieo vào lòng đất; nó sẽ lớn lên theo chủng loại của nó. Hãy gieo ý niệm (hạt giống) vào tâm trí, chăm bón tưới tiêu nó bằng niềm hy vọng, và nó sẽ đơm hoa kết trái.
  3. Những sự chữa lành thần diệu bạn được nghe tại những nơi linh thiêng khác nhau là do trí tưởng tượng cộng với niềm tin vô điều kiện vốn tác động lên tiềm thức, phóng thích sức mạnh chữa lành.
  4. Mọi bệnh tật đều bắt nguồn từ trong tâm thức. Sẽ không có gì xảy đến cho cơ thể trừ phi có một hình mẫu tinh thần tương ứng.
  5. Các triệu chứng của hầu hết mọi căn bệnh đều có thể xảy ra trong bạn do ám thị thôi miên. Điều này cho thấy sức mạnh của những suy nghĩ của bạn.
  6. Chỉ có một tiến trình chữa lành duy nhất, đó chính là niềm tin; và chỉ có một sức mạnh chữa lành duy nhất, đó chính là tiềm thức.
  7. Bất luận đối tượng của niềm tin trong bạn là thật hay giả, bạn vẫn sẽ nhận được kết quả. Tiềm thức đáp lại những ý nghĩ trong tâm thức của bạn; vì vậy hãy xem niềm tin như một ý nghĩ trong tâm thức, và tiềm thức sẽ nương theo đó mà hoạt động.

Cảm giác khỏe mạnh tạo ra sự khỏe mạnh; cảm giác sung túc tạo ra sự sung túc. Cảm giác hạnh phúc tạo ra niềm hạnh phúc.