Rồi Sau Đó... (Afterwards...)

Chương 17

Lúc học được cách sống thì đã quá muộn…

Aragon

Anh lái xe giữa đêm trên những con đường phủ trắng tuyết.

Buổi tối nay thật đã nặng nề quá sức chịu đựng. Tất cả những cảm xúc đã nhấn chìm anh trong ưu phiền sầu muộn, dần dần chuyển thành nỗi kinh hoàng, với cảm giác đáng sợ rằng đã đánh mất khả năng kiểm soát đời mình.

Đôi khi, trên những nẻo đường vắng tanh, anh có cảm giác như chẳng còn ai trên thế giới này, có cảm giác mình đã trở thành một hồn ma phiêu dạt trong vùng thôn quê New – England.

Phải nói rằng anh vẫn thường than vãn về cuộc sống mình đang có: công việc chồng chất, quá nhiều loại thuế phải nộp, quá nhiều sự o ép gò bó…

Khỉ thật, anh đúng là thằng đần! Chẳng có gì thú vị hơn sự sống của anh. Ngay cả một ngày buồn tủi cũng vẫn là một ngày được sống. Vậy mà giờ phút này anh mới hiểu được chân lý đó. Tiếc là anh đã không nhận ra nó sớm hơn.

Đúng vậy, nhưng mày không phải người đầu tiên có cảm giác hối tiếc đó, ông bạn thân mến ạ. Đó là toàn bộ vấn đề với cái chết: nó đưa lại câu trả lời cho những câu hỏi cốt yếu mà bấy giờ thì đã quá muộn.

Anh nở nụ cười méo xệch rồi liếc nhìn gương chiếu hậu. Tấm gương nhỏ phản chiếu hình ảnh một người đàn ông đang chờ ngày lĩnh án tử hình. Thật lòng, anh nghĩ sao về cái chết nhỉ?

Thôi nào, đây không phải lúc để nói dối nữa đâu, Nathan thân mến.

Ta sẽ nói cho mi biết chuyện gì sắp đến: tim ngừng đập, tất cả chỉ có vậy thôi. Con người chỉ là một đống tế bào hợp thành. Thân xác rồi sẽ phân huỷ trong đất hoặc cháy thành than trong lò thiêu nhà táng và thế là hết. Thế là đủ. Tất cả những gì còn sót lại chỉ là một trò cợt nhả quá đáng.

Đó là những gì anh thực sự nghĩ trong lòng khi cho xe tiến sâu vào màn đêm.

Cái lạnh giờ đây ngày càng hiện hữu. Những cụm hơi nước thoát ra từ miệng anh. Anh gạt cần sưởi lên mức cao nhất, vẫn tiếp tục dòng suy tưởng.

Và nếu, bất chấp tất cả, con người vẫn không chỉ là một lớp vỏ xác thịt thì sao? Nếu còn một cái gì khác nữa?

Một bí ẩn.

Nếu thực sự có một nguồn sức mạnh tồn tại độc lập với thân xác?

Một linh hồn.

Tại sao lại không nhỉ, sau tất cả những chuyện khó tin này, bởi vì có cả những người có khả năng dự đoán cái chết kia mà. Nếu như một năm về trước, người nào nhắc với anh về những Sứ giả hẳn đã phải nhận từ anh những lời châm chọc nhẹ nhàng. Thế nhưng hôm nay anh không còn nghi ngờ về sự tồn tại của họ nữa.

Nhưng ngay cả khi chấp nhận sự tồn tại của một nguồn năng lượng sẽ rời bỏ thân xác sau khi chết, nguồn năng lượng đó sẽ thoát ra theo lối nào nhỉ? Và để đi đến đâu? Đến “thế giới bên kia” mà anh tin là đã suýt bước vào khi còn là một đứa trẻ ư?

Không thể chối cãi được rằng trải nghiệm về cái chết lâm sàng đã dẫn đến những cánh cửa của một điều gì đó. Cái chết có vẻ êm dịu một cách nguy hiểm, cực kì đáng sợ, giống như giấc ngủ giả tạo do trạng thái tê liệt gây nên. Anh đã cảm thấy thật dễ chịu. Vậy thì tại sao anh lại quay về? Anh cố gắng không khơi dậy kí ức đó nữa. Anh lờ mờ biết rằng mình vẫn chưa sẵn sàng để đối diện với đoạn đời đó.

Giờ thì nỗi sợ đang thắt chặt lấy anh. Anh hẳn đã đánh đổi nhiều thứ khác để được quyền tham gia cuộc chơi thêm một thời gian nữa. Thậm chí là một vài ngày, thậm chí là một vài giờ.

Anh đang trên đường trở về thành phố, mật độ giao thông mỗi lúc một dày đặc. Chẳng bao lâu sau, tấm biển chỉ đường cho thấy anh đang ở rất gần New York và một tiếng sau, anh đã về đến nhà mình.

Anh băng qua sảnh vào của toà nhà San Remo nom thật lịch lãm với ánh sáng dìu dịu và những hoạ tiết trang trí theo kiểu cổ. Từ đằng xa, anh nhận ra Peter vẫn ngồi ở vị trí của mình, đang nói chuyện với một bà lão sống trong khu nhà. Trong lúc chờ thang máy, anh loáng thoáng nghe được vài đoạn trong cuộc hội thoại:

- Chào bà, bà Fitzgeral, chúc kì nghỉ tốt lành.

- Kì nghỉ tốt lành cho cả anh nữa, Peter ạ. Ôm hôn Melissa và bọn trẻ giùm tôi.

Melissa và bọn trẻ ư?

Nathan thậm chí còn không biết Peter đã có con. Anh chưa bao giờ bớt chút thời gian để trò chuyện với anh ta. Đó vẫn là vấn đề nan giải trong cuộc đời Nathan Del Amico: anh không quan tâm nhiều lắm đến người khác. Một câu Mallory vẫn thường nhắc vang vọng trong tâm trí anh: “Chăm lo đến người khác chính là chăm lo cho bản thân.”

Nathan khép cánh cửa ra vào của căn hộ.

Anh phải mất gần hai tiếng mới về đến Manhattan và anh đã thấm mệt. Lái xe quả là một trò hành xác bởi tuyết đã bắt đầu chất thành đống và đóng băng khắp mọi nơi. Đấy là chưa kể vết thương ở bàn chân và bắp chân đang nhức thấu xương.

Từ vài ngày nay, anh đã chú ý hơn tới nỗi đau thể xác, anh thường tự hỏi cơ thể mình sẽ phản ứng thế nào khi cận kề cái chết. Kết cuộc sẽ là êm dịu hay đau đớn? Hừm… tốt hơn hết là không nên ảo tưởng quá nhiều, cứ nhìn cái cách Candice và Kevin chết thì biết. Anh khập khiễng lê tới tủ thuốc, nuốt chửng hai viên aspirin để xoa dịu cơn đau trước khi ngã người xuống ghế bành. Trên cái kệ bên trái anh, một cây bonsai đắt giá đang rụng đến chiếc lá cuối cùng.

Anh chưa bao giờ biết cách chăm sóc thứ cây nhỏ nhắn này, món quà của Mallory. Anh đã hoài công cắt tỉa và tưới nước đều đặn cho cái cây với một máy phun sương, chẳng thay đổi được gì hết: mỗi ngày cái cây lại úa thêm và rụng lá không cách nào cứu chữa.

Rõ ràng anh cũng không có được sự khéo léo để biến những vật nhỏ bé này thành niềm vui nho nhỏ trong cuộc sống như Mallory.

Anh nhắm mắt lại.

Mọi chuyện đến quá nhanh. Anh có cảm giác vừa mới nhận được bằng tốt nghiệp ngày hôm qua. Vậy mà anh đã phải chuẩn bị ra đi rồi ư? Không, không thể có chuyện đó.

Một ý nghĩ khác đang giày vò anh. Anh tưởng tượng ra Vince Tyler đang áp môi mình lên môi Mallory, vuốt tóc cô, chậm rãi cởi quần áo cô trước khi làm tình với cô.

Chúa ơi, thật là ghê tởm! Vince chỉ là một tên tăm tối ngu dốt không có lấy một chút tinh tế và khả năng phán đoán, Mallory thực sự xứng đáng hơn thế nhiều.

Anh khó nhọc mở một bên mắt, lập tức gặp phải một bức tranh hầu như toàn bộ là màu trắng, chính giữa bị xé toang bởi một vệt sẫm màu thép gỉ. Một trong những tác phẩm của Mallory, anh rất thích tuy không thực sự hiểu hết ý nghĩa.

Anh với lấy điều khiển tivi để chuyển hết kênh này sang kênh khác: chỉ số Nasdaq lại một lần nữa giảm; clip của Ossy Osbourne; Hillary Clinton trong chương trình của David Letterman; khuôn mặt méo xệch của Tony Soprano trong trang phục áo choàng tắm; phim tài liệu về Saddam; bài thuyết giáo của một linh mục đạo Tin lành; và để khép lại, Lauren Bacall trong phim "Cánh cửa kinh hoàng" đang hứa với Bogart: “Nếu anh cần tôi, hãy huýt sáo.”

Anh đang định dừng lại ở kênh cuối cùng này lâu hơn một lát thì chợt nhận thấy máy trả lời tự động đang nháy đèn. Anh gượng đứng dậy và nhắn nút nghe tin nhắn thoại. Ngay lập tức, giọng nói hào hứng của Bonnie vang lên khắp căn hộ:

“Chào ba, là con đây. Mọi chuyện ổn chứ ba?

Ba biết không, hôm nay ở trường chúng con đã học đến bộ cá voi. Thế nên con muốn xin với ba một chuyện: mùa xuân năm tới chúng ta có thể đi xem cá voi di cư đến Stellwegon được không ba? Mẹ bảo con có lần ba đã dẫn mẹ tới đó và ở đó rất tuyệt. Con cũng muốn được đến đó. Ba đừng quên con muốn sau này trở thành bác sĩ thú y và chuyến đi này có thể giúp ích cho con.

Thế ba nhé, hẹn sớm gặp ba. Đang có "Chuyện nhà Simpson" trên tivi. Hôn ba.”

Nathan nhớ lại chuyến du ngoạn đó. Từ đầu mùa xuân cho đến giữa tháng Mười, những đàn cá voi từ biển Caribe ngược lên phía Groenland theo vịnh Maine. Đó là một quang cảnh hùng vĩ rất đáng đến tận nơi chiêm ngưỡng. Đương nhiên là phải cho Bonnie tận mắt chứng kiến.

Nhưng có lẽ anh sẽ không được là người dẫn con bé tới đó: tháng Tư còn xa quá và đâu đó trong vũ trụ này, ai đó đã quyết định rằng sẽ không còn có “mùa xuân năm mới” trong đời Nathan Del Amico.

Vậy là anh để tâm trí mình lang thang về lại tháng Năm năm 1994, cuối một buổi chiều mát dịu nhưng tràn ngập nắng, ngoài khơi Massachusetts.

Anh đang ngồi cùng Mallory ở mũi tàu du lịch đang neo ngay phía trên một dải cát rộng mênh mông lấn vào giữa hai mũi đất Cod và Ann.

Anh ngồi ngay đằng sau cô, cằm tựa vào vai cô. Cả hai đang ngắm chân trời tĩnh lặng của biển.

Bỗng nhiên, Mallory chỉ về một phía ngoài khơi.

Một đàn cá voi khoảng mười lăm con đang tiến về phía họ, lưng phun những tia nước cao tới hàng mét phát ra tiếng ầm ào như một chùm pháo hoa lộng lẫy.

Chẳng bao lâu, đầu và phần lớn lưng của chúng đã nổi lên rất gần thuyền. Những sinh vật có vú nặng chừng năm mươi tấn sượt nhẹ qua mạn tàu và kêu những tiếng dịu dàng. Mallory quay về phía anh, nụ cười trên môi, đôi mắt mở to. Họ biết mình vừa được chứng kiến một cảnh tượng ngoạn mục.

Chẳng mấy chốc đàn cá voi đã thực hiện cú trầm mình cuối cùng. Với vẻ vô cùng duyên dáng, chúng quẫy đuôi rất cao trước khi biến mất vào đại dương, cùng lúc phát ra những tiếng huýt gió the thé mỗi lúc một nhỏ dần.

Thế rồi chẳng còn lại gì nữa ngoài những loài chim biển đang chao liệng ngang trời để khẳng định chủ quyền lãnh thổ của mình.

Trên đường quay trở lại bờ, ông chủ tàu, một ngư dân lão luyện của thị trấn Provincetown, đã kể cho họ nghe một câu chuyện kì thú.

Năm năm trước, người ta đã tìm thấy trên bãi biển này hai chú cá voi nhỏ thuộc giống cá voi lưng gù bị mắc cạn trên bờ cát.

Con to hơn là một con đực đã bị thương và tai trái bị ra máu nhiều. Con kia có vẻ rất khoẻ mạnh. Những đợt thuỷ triều ở nơi này thường không lớn và người ta có cảm tưởng rằng bọn cá voi có thể trở lại với biển khơi bất cứ lúc nào chúng muốn. Trong vòng bốn mười tám giờ đồng hồ, những người phụ trách canh gác bờ biển đã cố gắng cứu con vật còn khoẻ mạnh bằng cách dùng mấy chiếc tàu nhỏ và dây thừng kéo nó về phía biển.

Nhưng mỗi lần người ta đặt nó trở lại trong nước, con cái thốt kêu những tiếng đầy oán thán và nhất định trở lại gặp bạn đời của nó trên bờ cát, cố chạm đến con kia như thể che chắn cho nó.

Đến sáng ngày thứ ba, con đực rốt cuộc cũng chết và người ta thử kéo con cái còn sống xuống nước lần cuối cùng. Lần này, nó không còn cố gắng trở lại mắc cạn trên bờ biển nữa nhưng vẫn ở rất gần bờ, không ngừng bơi vòng quanh và cất những tiếng kêu dài sầu thảm đến mức khiến những người đi dạo trên bờ biển phát rợn.

Chuyện đó kéo dài rất lâu, thế rồi cũng đột ngột như đoạn mở đầu, nghi lễ để tang đó cuối cùng cũng kết thúc, và con cá voi chầm chậm quay trở lại mắc cạn trên bãi cát và chẳng bao lâu sau cũng từ giã cõi đời.

- Giữa loài vật với nhau nảy sinh mối tình cảm quyến luyến như vậy kể cũng lạ người chủ tàu vừa nói vừa châm điếu thuốc.

- Hành động quá ngu xuẩn, Nathan nhận định, giọng nói không biểu lộ chút cảm xúc.

- Không hề ngu xuẩn chút nào, Mallory thốt lên sau một lát im lặng.

- Ý em là sao?

Cô nghiêng người về phía trước để ghé vào tai anh nói thầm:

- Nếu anh buộc phải chết, em cũng sẽ mắc cạn cùng anh.

Anh quay sang cô và đưa cô vào lòng.

- Anh hy vọng là không, anh vừa nói vừa đặt tay lên bụng cô.

Cô đang mang thai ở tháng thứ sáu.

Nathan vụt đứng lên.

Mình đang làm cái quái gì thế này, nằm một mình vạ vật trên tràng kỷ, lật đi lật lại quá khứ, thay vì ở bên vợ và con gái ư?

Chiếc radio báo thức hiển thị 2h14’ sáng, nhưng ở California lúc này mới là hơn mười một giờ đêm. Anh nhấc điện thoại lên và bấm nút gọi số đầu tiên trong danh bạ.

Sau nhiều hồi chuông, một giọng nghe rất mệt mỏi trả lời máy:

- Vâng?

- Chào em, Mallory. Hy vọng anh không đánh thức em đấy chứ?

- Sao anh gọi muộn vậy? Có chuyện gì thế?

- Không có gì nghiêm trọng cả.

- Vậy thì anh muốn gì nào? Cô hỏi sẵng.

- Có lẽ là bớt một chút khiêu khích trong giọng nói của em.

Cô không thèm đếm xỉa đến lời nhận xét của anh mà lặp lại với giọng chán nản:

- Anh muốn gì nào, Nathan?

- Báo cho em biết ý định của anh đến đón Bonnie ngay ngày mai.

- Cái gì? Anh đang đùa hay sao?

- Để anh giải thích đã nào…

- Chẳng có gì phải giải thích cả, cô nạt nộ, Bonnie còn phải học đến cuối tuần!

Anh thở dài.

- Con bé nghỉ học vài ngày cũng có sao đâu. Đó đâu phải thảm kịch, còn nữa…

Cô không để anh nói hết câu:

- Tôi có thể biết lý do anh đến đón con sớm hơn dự định được không?

Lý do là anh sắp chết, em yêu ạ.

- Anh đã lấy vài ngày phép và anh cần gặp Bonnie.

- Chúng ta đã đề ra những nguyên tắc cơ mà.

- Đã đành là thế, nhưng đó cũng là con gái anh, giọng anh đã lộ rõ sự bấn loạn. Anh xin nhắc để em nhớ rằng cả hai chúng ta đang cùng nuôi dạy con.

- Tôi biết, cô thừa nhận, giọng đã dịu đi đôi chút.

- Nếu là em yêu cầu anh chuyện tương tự, anh sẽ không gây khó dễ.

Cô không nói gì nhưng anh nghe thấy tiếng cô thở ở đầu dây bên kia. Anh bỗng nảy ra ý tưởng về một vụ thoả hiệp.

- Bố mẹ em vẫn ở Berkshires chứ?

- Đúng vậy. Họ định nghỉ Giáng sinh luôn tại đó.

- Nghe này, nếu em để anh đến đón Bonnie ngay ngày mai, anh sẵn sàng dẫn con bé về nghỉ cùng ông bà ngoại hai ngày.

Cô ngần ngừ một lát rồi hỏi với giọng hoài nghi:

- Anh sẽ làm vậy sao?

- Đúng vậy, nếu điều đó là cần thiết.

- Quả là đã lâu rồi con bé chưa được gặp ông bà ngoại, Mallory thừa nhận.

- Thế là em đồng ý nhé?

- Tôi không rõ. Để tôi cân nhắc đã.

Cô sắp gác máy đến nơi.

Không thể chịu đựng những cuộc trò chuyện đối đầu như thế này thêm nữa, anh quyết định đặt cho cô câu hỏi đã nương nấu trong lòng bấy lâu nay.

- Em còn nhớ thời mà chúng ta chuyện gì cũng kể nhau nghe không?

Cô sững người. Anh nói tiếp thật nhanh:

- Thời mà chúng ta dắt tay nhau đi trên phố, thời chúng ta gọi điện đến chỗ làm cho nhau ba lần mỗi ngày, thời mà chúng ta trò chuyện với nhau hàng giờ không biết chán…

- Tại sao anh lại nhắc đến chuyện đó?

- Là bởi ngày nào anh cũng nghĩ đến nó.

- Em không biết đây có phải thời điểm thích hợp để nhắc chuyện đó hay không, cô nói bằng giọng chán chường.

- Đôi khi anh có cảm giác là em đã quên. Em không thể sổ toẹt những gì chúng ta đã có với nhau.

- Em không làm vậy.

Giọng cô đã thay đổi âm sắc. Không thể đoán định được.

- Nghe này… Hãy hình dung chuyện gì đó xảy đến với anh… một chiếc ôtô hất tung anh giữa phố chẳng hạn. Vậy là hình ảnh cuối cùng em giữ lại về chúng ta sẽ là một cặp đôi bất hoà.

Cô nói bằng giọng buồn bã:

- Nhưng chúng ta đúng là vậy kia mà, Nathan.

- Chúng ta sẽ vĩnh biệt nhau trong bất bình và giận dữ. Anh nghĩ em sẽ tự trách móc mình về điều ấy trong suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời và thật khó cho em khi phải sống với nỗi dằn vặt như thế.

Cô để cơn giận mặc sức bùng nổ.

- Em bảo để anh biết, tất cả là lỗi ở anh nếu…

Nhưng vừa cảm thấy những tiếng thổn thức đang dâng lên trong cổ họng, cô không nói hết câu mà vội vã bỏ máy.

Mallory nuốt nước mắt vào trong để không đánh thức con gái dậy rồi đến ngồi trên những bậc cầu thang gỗ.

Cô rút một tờ khăn giấy, lau khô đôi mắt đỏ hoe. Ngẩng đầu lên, cô cảm thấy khó chịu với hình ảnh phản chiếu trên tấm gương gắn ở sảnh vào.

Từ khi mất đứa con trai bé bỏng, cô đã gầy rộc đi và toàn bộ niềm vui sống của cô tắt lịm. Cô lại khoác lên mình vẻ lạnh lùng mà cả đời này cô đã đấu tranh xoá bỏ. Ngay từ thời trẻ cô đã không thể chịu nổi mặt tính cách không khác gì siêu sao màn bạc Grace Kelly của mình: vẻ xa cách lạnh như băng, thái độ hoàn hảo mà đôi khi những phụ nữ được thụ hưởng nền giáo dục giống cô tự nhận về mình. Cô vẫn luôn ngờ vực sự hoàn hảo. Cô không muốn trở thành người khó gần; trái lại, cô muốn ngụp lặn trong thế giới này, trải lòng mình với tất cả mọi người. Chính vì mục đích ấy mà cô luôn lựa chọn những chiếc quần jean và áo đan chui đầu lụng thụng đem lại cảm giác thoải mái cho người mặc. Hẳn là cô đã không động đến những bộ đồ kiểu cách từ chục năm trời nay.

Cô đứng dậy, tắt hết đèn trong phòng rồi thắp vài ngọn nến và một nén nhang.

Trong mắt phần đông những người xung quanh, cô là một phụ nữ tâm lý khá vững và luôn tạo dựng thế cân bằng. Thế nhưng, con người cô vẫn bộc lộ một sự bấp bênh có từ thời niên thiếu, thời đó cô đã nhiều lần phải đối mặt với chứng chán ăn.

Trong một thời gian dài, cô tin mình đã hoàn toàn thoát khỏi chứng bệnh đó… cho tới cái chết của Sean.

Đã ba năm trôi qua kể từ ngày xảy ra thảm kịch nhưng nỗi đau vẫn còn đó, nguyên vẹn. Mallory bị dằn vặt bởi niềm tin mù quáng rằng tất cả mọi chuyện hẳn đã khác nếu cô có mặt trong đêm định mệnh đó. Không có ngày nào trôi qua mà cô không để tâm trí mình vẩn vơ nghĩ về quá khứ, về những năm tháng đầu đời của con trai cô. Có điều gì đó mà cô đã không nhận ra? Cô đã bỏ qua một triệu chứng, một dấu hiệu nào đó chăng?

Ngày còn nhỏ, sau khi suýt chết đuối trong lòng hồ đó, trong cô đã hình thành một cảm giác ghê sợ cái chết đến khiếp đảm. Cô chưa từng tưởng tượng ra trên đời lại có điều gì đó đáng sợ hơn cái chết của bản thân mình. Nhưng, một khi đã trở thành mẹ của những đứa trẻ, cô đã hiểu thử thách gian nan nhất lại là chứng kiến sinh linh bé bỏng mình đứt ruột đẻ ra biến mất khỏi mặt đất này. Lúc bấy giờ cô đã phải thừa nhận một lẽ hiển nhiên: đúng vậy, có những thứ còn tồi tệ hơn cái chết.

Hẳn là cô đã đọc được ở đâu đó rằng, vào thế kỷ XVIII, 90% trẻ em không sống được quá hai tuổi. Nhưng đó là thời xưa, thời lưỡi hái của Thần Chết hoành hành khắp mọi nơi và con người được chuẩn bị rất kỹ về mặt tâm lý để đón nhận cái chết của những người thân. Trong khi với riêng cô, cuộc sống đã chấm dứt trong những tháng ngày dài dặc và kinh khủng. Bối rối đến cùng cực, cô đã hoàn toàn mất phương hướng.

Cái chết của Sean sẽ mãi mãi là tấn thảm kịch lớn nhất của đời cô, nhưng nỗi thất vọng lớn nhất lại xuất phát từ cuộc hôn nhân thất bại. Từ ngày họ dọn đến sống chung, hồi còn học đại học, cô đã luôn tin rằng mỗi sáng cô sẽ thức giấc cùng với Nathan kề bên, cho đến khi một trong hai người lìa đời. Thế mà cô đã chứng kiến hôn nhân của mình tan vỡ mà chẳng thể làm được gì để cứu vãn. Đinh ninh mình đang chịu trừng phạt vì lỗi lầm phạm phải, cô đã chấp nhận rời xa chồng mà không cố sức hàn gắn mối quan hệ.

Lần đầu tiên trong đời, cô cảm thấy xa lạ trước anh và họ đã không thể nói chuyện hay chia sẻ cùng nhau. Đúng lúc cô cần đến sự ủng hộ của anh hơn bao giờ hết thì anh lại càng dồn tâm trí và sức lực cho công việc, để mặc cô với nỗi đau riêng mình.

Để cố gắng chịu đựng và thoát khỏi cơn trầm cảm cô miệt mài cống hiến cho những hoạt động xã hội. Những tháng vừa qua, cô đã làm việc để tạo dựng trang web cho một tổ chức phi chính phủ đấu tranh nhằm đảm bảo trách nhiệm về mặt đạo đức của các công ty. Công việc của cô chủ yếu là xếp hạng các công ty đa quốc gia theo những tiêu chuẩn đánh giá mức độ hợp pháp về lao động và môi trường. Kế đến, tổ chức sẽ đảm trách việc vận động các hiệp hội người tiêu dùng tẩy chay những hãng sản xuất có sử dụng lao động trẻ em hoặc thiếu tôn trọng những điều khoản của pháp luật hiện hành.

Và nỗ lực cải tạo xã hội của cô chưa dừng lại ở đó. Còn bao nhiêu là việc phải làm! Cô sống tại La Jolla một trong những khu giàu có của San Diego, nhưng thành phố nằm gọn trên hòn đảo nhỏ này cũng không tránh khỏi đói nghèo. Đằng sau vẻ hào nhoáng của những bãi tắm và những tòa cao ốc sáng chói trên nền biển xanh ngắt, một bộ phận lớn dân cư vốn sống tạm bợ qua ngày với nguồn thu nhập ít ỏi, đôi khi một chỗ ở cho ra hồn cũng không có. Đều đặn tuần ba lần, cô tìm tới một trung tâm cứu trợ người vô gia cư trong thành phố. Công việc dẫu có khó nhọc, nhưng ít ra cô còn thấy mình có ích, đặc biệt là vào thời điểm này trong năm, khi mà một nửa cư dân thành phố đang đổ sô đến các siêu thị để phung phí tiền bạc vào những cuộc mua sắm vô bổ. Càng lúc cô càng không thể chịu đựng sức ép tiêu thụ này nữa, bấy lâu nay nó đã làm sai lệch ý nghĩa thực sự của lễ Giáng sinh.

Đã có thời cô muốn chồng cùng sát cánh trong những vụ kiện tụng tranh chấp. Nathan là một luật sư tài năng, anh hoàn toàn có thể cống hiến năng lực của mình cho một lý tưởng cao đẹp. Nhưng sự việc đã không diễn ra như mong muốn của cô. Cặp đôi của họ được xây dựng trên một sự lầm tưởng mà họ không hề hay biết. Tuy thế, ai cũng muốn tiến một bước về phía người kia. Về phần mình, cô luôn xa rời thú vui ăn chơi hưởng thụ của giới thượng lưu, ít gặp gỡ tiếp xúc với những người thuộc tầng lớp xuất thân của mình. Thông điệp gởi đến chồng cô rất rõ ràng: “Em không thấy phiền chỉ vì anh xuất thân từ tầng lớp bình dân.”

Anh thì ngược lại, muốn chứng tỏ cho cô thấy rằng cô đã không lấy nhầm một gã hạng xoàng, rằng anh đủ năng lực để đạt tới một vị trí cao trong xã hội và đảm bảo một cuộc sống đầy đủ cho vợ con.

Ai cũng nghĩ mình đã tiến một bước về phía đối phương nhưng họ đã không gặp nhau.

Trong cách nhìn nhận của Nathan, cuộc sống là một cuộc chiến không có điểm dừng, anh luôn phải phấn đấu thành đạt hơn nữa để chứng tỏ gì cô cũng không biết nữa.

Cô đã giải thích hàng trăm lần, chỉ mong anh hiểu cho rằng cô không muốn kết hôn với một siêu nhân nhưng vô hiệu: anh luôn tự cho là mình phải nỗ lực nhiều hơn nữa, như thể anh sợ làm cô thất vọng và, ngay từ buổi ban đầu, ý nghĩ đó đã chỉ khiến cô thêm bực bội mà thôi.

Bất chấp mọi chuyện diễn ra theo chiều hướng đó, cô vẫn đam mê anh. “Crazy about him” lời bài hát có nói như thế.

Cô nhắm mắt lại. Những hình ảnh của quá khứ lần lượt diễn qua tâm trí cô giống như trong một bộ phim đen trắng.