Hậu Cung Chân Hoàn Truyện

Quyển 8 - Chương 17: Chương 09 - phần 02

Thời tiết ngày một nóng lên, còn tôi thì ngày càng phiền muộn. Vì việc Ma

Cách tới Tây Kinh mà hậu cung dường như đã trở nên nặng nề hơn rất

nhiều, cho dù bây giờ trời trong nắng vàng nhưng mọi người dường như đều cảm nhận được mưa gió đang kéo tới. Đức phi khi tới thăm tôi từng lén

hỏi: “Nghe nói Ma Cách đã tới hành cung được mười ngày rồi, Hoàng thượng tiếp đãi hết sức chu đáo, nhưng vẫn cứ thoái thác chẳng chịu gặp mặt,

chuyện rốt cuộc là như thế nào vậy?”

Thấy ánh mắt nàng ta đầy vẻ

tò mò, tôi vội vàng xua tay, nói: “Muội chỉ là một nữ tử chốn hậu cung,

làm sao biết được mấy việc này! Tỷ tỷ đừng nên hỏi muội!”

Đức phi lo lắng nói: “Đến muội cũng không biết thì ta còn có thể hỏi ai bây giờ?”

Tôi khẽ nở nụ cười. “Ý trời khó đoán, ai mà biết được.”

Đức phi chắp hai tay lại niệm một câu “A Di Đà Phật”, nói: “Chẳng biết

Hoàng thượng có ý gì nữa, mấy ngày nay cứ tránh trong Thủy Lục Nam Huân

điện chẳng chịu ra ngoài, nói là vì Thái hậu vừa mất nên thương tâm, còn bị cảm nắng nữa. Khi các phi tần tới thăm thì Hoàng thượng lại không

chịu gặp mặt, chỉ cho Diễm Tần ở trong bầu bạn, chẳng ai rõ chuyện là

như thế nào nữa. Ta nhủ thầm, nếu là bị cảm nắng, tại sao lại không gọi

thái y tới hầu hạ? Hôm nay ta từng thử dò hỏi một phen thì được biết Ôn

thái y cũng không ở đó.”

Tôi nói: “Ôn đại nhân mấy năm nay vẫn luôn ở bên mộ của Huệ Nghi Quý phi để sám hối mà, có mấy khi rời đi đâu.”

Đức phi khẽ “ồ” lên một tiếng. “Cũng phải, tính kĩ ra, lần gần đây nhất ta

gặp y cũng là từ lâu lắm rồi. Hoàng thượng bây giờ cứ ngày đêm ở bên

Diễm Tần như thế e là không tốt cho thân thể.”

Vừa khéo hôm nay

Ngọc Ẩn, Ngọc Diêu và Ngọc Nhiêu đều ở đây. Ngọc Diêu xưa nay vẫn luôn

trầm mặc ít nói, Ngọc Nhiêu thì đặt Linh Tê trên đầu gối mà trêu chọc,

còn Ngọc Ẩn không kìm được hơi cau mày, nói: “Không còn Phó Như Kim nữa

thì lại lòi ra một Diệp Lan Y, xuất thân hèn mọn chưa nói tới, lại còn

suốt ngày cám dỗ quân vương. Thái hậu vừa mới qua đời, Hoàng thượng nếu

thật sự không vui thì cũng nên để trưởng tỷ ở bên bầu bạn, làm gì tới

lượt ả chứ!”

Tôi càng nghe càng khó chịu, không kìm được ngoảnh

đầu qua một bên. Ngọc Nhiêu đưa một chén trà tới cho Ngọc Ẩn rồi cười,

nói: “Nhị tỷ uống chén trà đi cho mát họng. Chẳng biết vì cớ gì nữa, nhị tỷ hình như rất ghét Diễm Tần thì phải.”

Ngọc Ẩn hơi nhướng mày.

“Ta đâu có ghét bỏ gì ả. Ả là sủng thiếp của Hoàng thượng, ta sao dám

ghét bỏ ả chứ? Ta chỉ bất bình thay cho trưởng tỷ mà thôi.”

Tôi

khẽ ho một tiếng, ngước mắt lên, nói: “Lời này của muội thực khiến người ta thương tâm quá. Ở đây ngoài Ngọc Diêu chưa gả chồng và Ngọc Nhiêu là chính phi ra, có ai mà không phải là thiếp đây?”

Đức phi vội vàng cười tươi giàn hòa: “Không thể nói như vậy được, muội muội là Thục phi

nắm quyền quản lý lục cung, trước đây ngoài Hoàng hậu ra, làm gì có ai

có quyền uy như vậy. Hoàng thượng nhất định chưa bao giờ coi muội muội

là thiếp đâu.”

Tôi gõ ngón tay xuống bàn làm phát ra những tiếng

“cộc cộc”, đồng thời chậm rãi nói: “Danh phận đã sờ sờ ra đó rồi, muội

tự biết mình là ai, tỷ tỷ không cần phải an ủi muội đâu.”

Ngọc Ẩn

đỏ bừng hai má, đành cầm chén trà lên uống một ngụm để che giấu sự xấu

hổ. Đức phi thở dài, than: “Cũng khó trách Ẩn phi lại bất bình thay cho

muội, trong cung bây giờ có mấy ai không oán trách Diễm Tần đâu. Hoàng

thượng thì lại không chịu nói gì, chuyện tiếp kiến Ma Cách cũng cứ bị

kéo dài nữa...”

Ngọc Nhiêu ngẩng lên, nói: “Nghe nói gã Ma Cách đó cũng không nôn nóng, suốt ngày tìm người dẫn đi ngắm phong cảnh Tây

Kinh, thảnh thơi vô cùng.” Sau đó lại chống cằm lộ vẻ u sầu. “Cũng khó

trách cửu lang dạo này lại hay tức giận, đang lúc quốc nạn lâm đầu y tất nhiên hy vọng có thể ra sa trường dốc sức, có điều đã dâng sớ lên mấy

lần mà Hoàng thượng chẳng buồn trả lời lấy nửa câu.”

Đức phi ôn tồn khuyên nhủ: “Cửu Vương gia hãy còn trẻ tuổi, về sau tự khắc sẽ có cơ hội kiến công lập nghiệp.”

Ngọc Nhiêu giận dữ nói: “Sao muội lại không biết điều này chứ, có điều cửu

lang tạm chưa nhắc tới, nhưng bản lĩnh của lục ca, chúng ta đều biết cả

mà.”

Ngọc Ẩn bất giác giật mình thảng thốt, vội cười, nói: “Muội

không cần dát vàng lên mặt Vương gia như thế làm gì, chút bản lĩnh đó

của y chỉ đủ dùng để cưỡi ngựa bắn tên thôi, đâu có thể thật sự ra trận

giết địch. Hoàng thượng rất biết dùng người, ắt sẽ chẳng dùng tới Vương

gia đâu.”

Ngọc Nhiêu khẽ cười một tiếng, không nói gì thêm. Mọi

người đang ngồi đó uống trà, chợt Lý Trường lẳng lặng đi vào, cung tay

mừng rỡ nói: “Bẩm nương nương, có tin mừng lớn bằng trời đây. Đúng là

trời cao đã phù hộ cho Đại Chu ta, đám người man di Hách Hách ở ngoài

Nhạn Minh quan không hiểu sao tự dưng lại bùng phát bệnh dịch, binh sĩ

cứ thế đổ rạp, không cách nào chữa trị. Vị Khả hãn Hách Hách kia đã nôn

nóng lắm rồi, đang yêu cầu được gặp Hoàng thượng ngay.”

Tôi bất giác hơi nhếch khóe môi, hắn rốt cuộc đã nôn nóng rồi.

Đức phi vội vàng hỏi: “Hoàng thượng đã biết chưa?”

Lý Trường cười đến híp mắt lại. “Có tin tức tốt thế này, nô tài tất nhiên

phải bẩm báo lúc nương nương cũng ở bên rồi, như thế nương nương mới

tiện giúp nô tài xin ban thưởng chứ!”

Tôi không kìm được bật cười khúc khích. “Ngươi cứ mặc sức mà lẻo mép đi.”

Đức phi vội đứng dậy, nói: “Muội muội có việc quan trọng cần làm, ta xin phép cáo lui đây.”

Tôi quay sang nói với Ngọc Nhiêu: “Muội mau thay ta tiễn Đức phi đi.”

Ngọc Nhiêu vội vàng đứng dậy đưa tiễn Đức phi. Ngọc Ẩn theo tôi vào phòng

trong thay y phục, thấy xung quanh không có ai mới nôn nóng nói: “Bây

giờ thế công của Hách Hách đã giảm, nhưng bất kể thế nào trưởng tỷ cũng

chớ nên để Vương gia tới biên quan. Đao thương không có mắt là một nhẽ,

đã thế Hoàng thượng còn kiêng dè tài năng của Vương gia, vết xe đổ của

Nhữ Nam Vương, muội đến bây giờ hãy còn nhớ rõ...”

Tôi khẽ gật đầu, trầm giọng nói: “Ta hiểu.”

Đi tới bên ngoài Thủy Lục Nam Huân điện, chỉ thấy bốn phía đều không có

tiếng động, im lặng tựa chốn không người. Tôi đang định sai gã thái giám canh gác bên ngoài đi vào bẩm báo, chợt một tiếng “két” vang lên, một

nữ tử hờ hững cất bước ra ngoài, hóa ra là Diễm Tần với khuôn mặt vô

cùng uể oải.

Nàng ta ngẩng lên nhìn thấy tôi thì hơi nhún người

coi như hành lễ. Tôi vội đưa tay đỡ lấy nàng ta. “Đã khiến muội muội

phải chịu ấm ức rồi.”

Nàng ta cười gượng gạo, nói: “Quả thế thật,

ngày nào cũng phải ngồi trên ghế không được động đậy, không được nói

năng, lại còn phải nhìn Hoàng thượng đầy lòng ưu phiền mà chẳng thể phát tác, ta quả thực rất mệt.”

Tôi khẽ gật đầu, nói: “Đã tới lúc này

rồi, Hoàng thượng làm gì có tâm tư mà sủng hạnh phi tần, thành ra khiến

muội muội phải chịu tiếng oan.”

Nàng ta cười nhạt một tiếng, trong mắt ánh lên những tia lạnh tựa băng sương. “Ta quen rồi. Ngoài ta ra

thì làm gì còn ai gánh nổi tội danh như thế.”

Lòng tôi thầm chua

xót, đang định mở lời thì bỗng nghe ở phía trong, Huyền Lăng cất tiếng

cười vang sang sảng. “Hay! Bệnh dịch quả nhiên đã bùng phát rồi, đây

đúng là một tin mừng lớn!”

Tôi vội vàng ngoảnh đầu lại, thấy Lý

Trường cũng tỏ ra hết sức ngạc nhiên và khó hiểu. Diễm Tần hờ hững đưa

mắt nhìn tôi, nói: “Vừa rồi Tiểu Hạ Tử đã đi vào.”

Lý Trường kinh ngạc bật thốt: “Nô tài cũng chỉ mới hay tin thôi, Tiểu Hạ Tử cớ gì mà lại biết được tin này nhanh như thế chứ?”

Diễm Tần chỉnh lại cổ áo một chút, thấp giọng nói: “Thục phi cẩn thận một chút, Tiểu Hạ Tử là người của Hồ Uẩn Dung.”

Tôi lập tức hiểu rõ nguồn cơn, bèn cười, nói: “Lý Trường, ngươi mau vào hầu hạ Hoàng thượng đi. Bản cung mệt rồi, phải về nghỉ ngơi đây.”

Rốt cuộc vào buổi trưa ba ngày sau, Huyền Lăng đã cho bày tiệc ở Thái Bình

hành cung để tiếp đãi Ma Cách Khả hãn từ xa tới. Ngay từ sáng sớm, Tiểu

Doãn Tử đã tấm tắc nói với tôi: “Nghe nói Ma Cách Khả hãn đã tiến cống

một con gấu, hình như hung dữ vô cùng.” Kế đó y lại lắc đầu nguầy nguậy. “Người khác đa phần đều tiến cống vàng bạc châu báu hoặc lụa là hương

liệu, y thì hay lắm, lại đi tiến cống một con gấu, rõ là loại man di có

khác.”

Tôi nghe thế thì chỉ cười nhạt không nói gì. Một con gấu mà thôi, sát tâm liệu có đáng sợ hơn con người được không?

Tôi chậm rãi vẽ lông mày trong sự trầm lặng. Loa tử đại một thỏi giá ngang

một hộc vàng, cứ thế được tô lên đôi hàng lông mày lá liễu của tôi. Mấy

năm nay do những phen sát phạt mà trên đôi mày của tôi đã có thêm mấy

tia sát khí, do đó phải vẽ sao cho tròn đầy một chút, vậy mới toát ra

được vẻ ôn hòa, điềm đạm.

Vì Thái hậu vừa mất nên dù là trong yến

tiệc cũng không thể mặc đồ bắt mắt, hôm nay tôi chỉ khoác một chiếc áo

dài có ống tay áo rộng màu vàng, bên trên thêu hình hoa phù dung, phía

dưới là chiếc váy màu xanh thêu hoa hải đường. Khi búi cao mái tóc và

cài chiếc bộ dao hình phượng hoàng lên trên, tôi chợt nhớ lại những ngày cùng ra ngoài du ngoạn với Huyền Thanh năm xưa, quãng thời gian ấy mới

thật tươi đẹp biết nhường nào, tiếc thay nó đã một đi không trở lại.

Ngoài cửa sổ, những loài hoa mùa hè nở đẹp như gấm vóc, vô số bông sen đỏ vẫn chen chúc nhau bên ngoài Nghi Phù quán chẳng khác gì mọi năm, chỉ duy

có con người là đã trở nên khác biệt, cả dung mạo và trái tim đều bị

thời gian làm hao mòn và phá hủy mất cái vẻ ban sơ.

Trong bữa tiệc hôm nay, Huyền Thanh dắt theo cả Ngọc Ẩn tới tham dự, mỗi lần gặp mặt

thế này, liệu y có cảm thấy tôi ngày càng khác với Chân Hoàn của năm xưa không?

Vừa nghĩ như vậy, tôi liền không kìm được có chút cảm

khái, lòng thoáng nỗi u buồn, bèn đặt cây trâm vàng đang cầm trong tay

xuống bàn. Cận Tịch đã phát giác ra sự khác thường của tôi, bèn đuổi hết đám người dưới ra ngoài, lại cẩn thận chọn lấy một cặp bông tai ngọc

hình chim én rồi đeo lên tai cho tôi, đồng thời dịu giọng nói: “Nô tỳ

biết là nương nương không muốn gặp Vương gia ở trong cung, cũng biết là

Ẩn phi vốn có bệnh đa nghi khá nặng, tấm lòng của nương nương Ẩn phi

chưa chắc đã biết, mà nếu nhìn thấy vẻ mặt của nương nương lúc này, chỉ e nàng ta sẽ rất không vui.” Hơi dừng một chút, nàng ta lại khẽ cất tiếng thở dài. “Sau khi Tĩnh phi qua đời, Vương gia vẫn đối xử với Ẩn phi

khách sáo như trước, người ngoài nhìn vào đều nói là phu thê họ ân ái vô cùng, nhưng nội tình thế nào thì chúng ta đều rõ cả. Phân Nhi mấy lần

về đây đều đã nói rồi, Vương gia tuy thường qua đêm ở chỗ Ẩn phi nhưng

hai người chẳng trò chuyện gì với nhau cả, chỉ diễn tuồng cho thiên hạ

xem mà thôi. Nô tỳ nhủ thầm rằng Vương gia vốn thông minh, chỉ e sớm đã

hoài nghi cái chết của Tĩnh phi có vấn đề rồi.”

Tôi khẽ thở dài

một tiếng, đôi hàng lông mày nhíu chặt. “Ta nào phải không biết điều

này, nhưng Vương gia đã chịu nhẫn nhịn như thế, chắc hẳn vẫn còn để ý

tới thể diện của nhà họ Chân, huống chi Ngọc Ẩn quả thực đã biết lỗi

rồi, thời gian qua luôn chăm sóc cho Dư Triệt hết sức chu đáo, cẩn thận. Chúng ta đều biết rõ cuộc sống của muội ấy ở vương phủ chỉ có vẻ hào

nhoáng bề ngoài mà thôi, thực ra khổ sở vô cùng, thêm nữa muội ấy từ nhỏ đã phải trải qua vô vàn trắc trở, khó tránh khỏi hay cả nghĩ, thành ra

ta cũng không nhẫn tâm trách cứ quá nhiều. Bên phía Vương gia ta đã kêu

Thái Cát lựa lời khuyên nhủ rồi, dù sao cả cuộc đời này bọn họ cũng phải ở bên nhau, cứ thế này mãi thì làm sao được?”

Cận Tịch gật đầu,

nói: “Một phen khổ tâm của nương nương nô tỳ biết rõ, cũng biết vì cớ gì mà nương nương lại che chở cho Ẩn phi như vậy. Thực ra Ẩn phi dù có lỗi lầm nhưng nhìn từ góc độ của Ẩn phi mà nói, nàng ta tất nhiên không hy

vọng nương nương có dính dáng tới Vương gia, do đó mỗi lần nương nương

không vui, nàng ta đều khó tránh khỏi sinh lòng nghi ngờ. Mà mọi người

trong cung nhìn vào nương nương thì đều cảm thấy nương nương thân là

Thục phi, rất được ân sủng, hẳn nhiên không bao giờ phải buồn bã. Nô tỳ

biết trước mặt người ta, nương nương luôn phải gượng nở nụ cười, trong

lòng thực là mười phần bất nhẫn, nhưng nô tỳ vẫn phải khuyên nương nương một câu này, đã gượng cười trước mặt người ta rồi thì sau lưng người ta đừng nên để lộ vẻ bi thương. Trong cung có nhiều tai mắt, biết bao

người lại đang nhòm ngó ngôi vị của nương nương, nương nương cần phải

quen với việc không bao giờ gỡ bỏ mặt nạ thì mới giữ được sự bình an

vĩnh viễn.”

Tôi thở dài, than: “Cận Tịch, trước nay chỉ có ngươi

là chịu hiểu ta, nhắc nhở ta thôi. Thân ở trong chốn cung đình, ta quả

thực không nên nhớ lại việc xưa mà làm tăng thêm những nỗi niềm phiền

não.”

Cận Tịch dịu dàng cười, nói: “Không phải là không nên nhớ

lại. Nô tỳ biết quãng thời gian vui vẻ nhất trong cuộc đời này của nương nương là khi nào, nếu không có quãng thời gian đó, cuộc sống của nương

nương chỉ e sẽ càng vất vả. Có điều nô tỳ cảm thấy, dù là mừng hay giận

thì cũng cần thể hiện ra đúng lúc, chỉ có như vậy thì mọi việc mới ổn

thỏa được.” Nàng ta chỉnh lại xiêm y giúp tôi, sau đó mới mỉm cười nói

tiếp: “Mong là nương nương sau này có thể thường xuyên tươi cười.”

Dù gặp gỡ cũng chỉ coi nhau như người xa lạ, đó mới là lối hành xử thích

hợp nhất của tôi và y trong thời điểm này. Tôi nhìn vào gương rồi nở một nụ cười thích hợp với thân phận Thục phi nhất, thực là đoan trang, nền

nã khó mà dùng lời để miêu tả. Có điều trong khoảnh khắc ấy, tôi lại

không kìm được thầm kinh hãi, từ lúc nào mà nụ cười của tôi lại có mấy

phần dáng vẻ của Hoàng hậu năm xưa thế này?