Gia Đình Má Bảy

CHƯƠNG 16

Docsach24.com

ương mù phủ trắng trời đất. Đứng trong nhà nhìn ra chỉ thấy những ngọn dừa cau xõa tóc bơi trong nước gạo.

Con gà trống đĩnh đạc bước tới góc sân, đập đôi cánh màu lửa, rướn cổ gáy chào sáng. Tiếng vui mở đầu một ngày vụt đứt. Quả đạn đại bác rắc rắc xé sương đâm xuống bên nó. Chớp trắng, sét nổ. Đám lông gà bay thốc. Tre lảo đảo gục trong khói. Một cây cau bị chặt đầu, tán lá nhảy lên lơ lủng một giây, xoáy tròn rơi đứng như cái cầu lông.

Chó trong xóm sủa rú lên. Một quả đạn nữa nổ tiếp. Rồi trận mưa đạn 105 và 155 ly băm vằm đổ xuống Đồng Dừa. Sau một đêm nghỉ bắn cầm canh ước chừng tám khẩu pháo đang khạc đạn đến đỏ nòng.

Căn hầm nhỏ biến thành cái trống nẩy bần bật dưới vô số dùi nện. Trên đầu má Bảy và Sâm, bầu trời là cái thúng úp một lũ mèo hóa điên vì tiếng trống, vừa gào rít vừa cấu sần sật các nan tre

Mặt còn nhợt, Sâm quờ tay tìm gói áo quần trong góc hầm tối. Thấy tay mình run, Sâm cáu tiết đập nó xuống đất. Sợ à? Mày đòi cầm súng mãi, bây giờ được đánh mày lại run? Tay Sâm hết run. Sâm giật ra bộ áo quần xanh của anh Sỏi, cái mũ vải Quân giải phóng Mại vừa may và đính cho những mảnh dù lất phất. Má Bảy ghé miệng vào tai Sâm hỏi to:

- Gì đó Út?

- Con ra kêu du kích...

- Khoan, đợi đã.

Một quả đạn 155 xoáy sâu xuống đất, bưng cái hầm lắc mạnh như sẩy gạo. Nồi niêu chén đĩa nhảy rổn rảng. Sâm đang đứng lom khom mặc lồng quần của anh ra ngoài quần đen, bị xô ngã dúi. Một mảng đất sườn hầm bung theo. Sâm moi đất lấy cái áo bị lấp, mặc thêm, gấp tay áo và ống quần lên cho đỡ dài. Má ngồi mé ngoài chặn không cho Sâm chạy ra dưới đạn pháo, gắt:

- Mày nhởn nhơ kiểu đó lại tốn người đi khiêng thôi.

- Chị em đang đợi, má ơi...

- Đợi dưới hầm chớ đâu. Đang bắn túi bụi tùng bùng, địch nào đã tới mà ngoi lên!

Mươi phút sau, đạn rơi nhích về phía bãi sông và dọc đường ôtô. Má Bảy co chân cho Sâm bước ra. Má ra theo, vuốt tóc Sâm và nói nhỏ sau lưng:

- Con đánh thì đánh, mà phải có ý có tứ, nghe lời các anh chị nghe con. Nhắn chừng chừng cho má nghe con

- Dạ. Con đi đây má.

Sâm chạy ù luôn để má khỏi bịn rịn.

Khói thuốc nổ còn bốc khét cay. Cây đu đủ bên vại nước bị tiện ngang hông, gục xuống đập vỡ cái chậu. Sâm vòng tránh nó, lên chỗ hầm bí mật, nhấc nắp, rút vội cây súng săn và cái thắt lưng đạn mà Sâm phá cặp da ra tự may. Chỉ có sáu viên đạn, một lựu đạn của Chuân cho, hai bàn chông sắt nhỏ buộc úp vào nhau. Rồi Sâm chạy băng giữa xóm, nhảy qua những thân tre cau đổ ngang đường, đến chỗ ngã tư.

Ngọ đợi sẵn ở đấy, lăm lăm cây súng trường 86/93 dài ngoẵng. Chị em khác kéo đến, mang mìn muỗi, lựu đạn, xách những bó chông cau đã hun khói giàn bếp.

Ngọ hỏi:

- Con Xuyến đâu rồi Sâm?

- Tao rủ, nó khiếp không dám ra. Miệng hùm gan sứa. Để tao sạc cho xấu cho dị...

- Đừng, nó làm việc khác cũng được.

Trấu chạy đến, thở như thổi bễ:

- Con Nhơn đòi ra mà má nó khóc bù lu bù loa. Để nó lén ra sau.

Chị em kéo xuống cuối thôn, dàn ra dọc con hào đào sau lũy tre, trông ra cánh đồng lớn giữa hai thôn Đồng Dừa và

Tiếng súng nhỏ bắt đầu dậy phía ga Đồng Mè. Không còn phân biệt được từng loại súng như những lần đánh biệt kích quận. Địch bắn như mấy trăm cái cối xay cối giã cùng một lần rào rào bịch bịch. Sâm leo lên một cành khế, rướn cổ nhìn. Không thấy gì ngoài những búng khói nhỏ từ những tán lá xôm xốp như đĩa xôi phì lên. Lửa đốt ruột Sâm. Pháo bắn sau lưng, quân bộ đánh trước mặt, đội du kích của Sâm phải nằm bẹp đây à?

Sâm tụt xuống gặp Ngọ:

- Mày nắm chị em, để tao xuống Đồng Mè coi thử.

- Các ông xã đội lại chỉnh cho...

- Ông Trưng, ông Sỏi đang cuống cà kê dưới đó. Lỡ các ảnh bị thương ai băng cho? Cơm nước ai đem? Mày cứ máy móc...

- Ừ, mày dẫn theo một tổ, có chị có em.

- Tao với con Trấu thôi. Pháo ngừng rồi kìa, đi Trấu ơi. Hai, ba, chạy!

Hai chị em chạy nhanh trên đường ruộng. Trấu nhắc hổn hển:

- Đừng kêu tên thiệt... bí mật mà...

- Tao quên... Kim Hương... Chạy mau Kim Hương ơi, tàu bay đụng đầu bây giờ!

Hai cô vừa đâm sầm vào bờ tre đầu thôn Đồng Trầu, một chiếc tàu rà đen trũi bay rất thấp chợt nhô lên khỏi ngọn tre, như con quạ vừa bị động tổ xõa cánh bay ra. Sâm kéo bạn vào một nhà bên đường. Người nhà ngồi dưới hầm cả. Sâm úp cái niêu đất, xoa đầy một bàn tay lọ nồi, bôi lên mặt và cổ.

- Giả làm Mỹ đen đi, bớ em bậu Kim Hương!

Trấu ngần ngại một tí, rồi quệt một ngón tay vẽ râu mép râu cằm lên bộ mặt lấm tấm tàn hương. Vào du kích bí mật, Trấu rất khoái được đổi tên nhưng không thích bôi mặt chút nào. Trấu nghĩ: "Xinh như con Sâm thì vẽ rồng rắn trên mặt nó cũng cứ xinh. Còn mình thêm lọ nồi nữa thì ma nó nhìn". Nhưng kỷ luật trong đội nghiêm lắm, Trấu phải theo.

Ra khỏi nhà, Trấu bật kêu run run:

- Chết, nó thả trái mù xóm Sông!

Chiếc L.19 ngoi lên, hứng mặt trời dưới bụng sáng lóa. Dưới đất phụt lên một cột khói trắng rất đặc. Xóm Sông, đúng xóm của Sâm!

Bốn chiếc AD.6 quần trên cao. Một chiếc nghiêng cánh, vòng xuống tận chợ Đồng Trầu, xuôi ánh nắng đâm bổ qua đầu hai chị em. Máy nó rống rung đất. Trấu nhào sấp xuống cái rãnh bên đường. Sâm đứng trân trân, xoay đầu nhìn theo nó. Quả bom rơi tròn như trái dừa, nhô đầu dài dần thành trái bí đao, chúi xuống rặng cây xa. Trong vầng khói bùng lên, Sâm tưởng thấy những mảnh lá dừa của nhà mình vẫy gọi chới với. Tiếng nổ đập vào ngực Sâm tức thở.

- Má ơi!

Sâm không hiểu chính mình hay ai vừa gọi má. Má ngồi một mình trong hầm. Ai bới hầm cứu má, ai băng cho má, má ơ

Chiếc máy bay thứ hai nhào thẳng hướng Sâm. Cánh quạt quay tròn xoe thành một tròng mắt trắng dã. Sâm bẻ búa súng, chĩa vào nó. Phát đạn nổ xa lắc trong tiếng gầm. Nó sà qua đầu Sâm, nhả bom. Vẫn xóm Sông. Nó không biết đến chín viên chì mới bay lên chưa chạm bụng nó đã rơi. Sâm hạ súng. Biết mình bắn phí đạn, nhưng Sâm thấy đỡ tức một chút.

Trấu giật tay Sâm:

- Đừng bắn, nó thấy bây giờ. Đợi hết tàu bay ta về coi thử.

Sâm rút cái vỏ đạn đút túi, lắp viên khác, bóp chết cò. Không giết được thằng giặc trên trời cũng phải giết thằng dưới đất. Sâm nói lạnh như một anh chiến sĩ lâu năm:

- Trên đó để chị em lo. Tụi mình xuống Đồng Mè kiếm ít con thịt.

*

Pháo ngừng bắn. Bà con Đồng Dừa vừa ra khỏi hầm xem lại nhà cửa thì máy bay đã đến.

Bom tạ bốc từng cụm hai ba nóc nhà ném lên trời tơi tả. Bom napan nổ bịch bịch như ai đập nong, dựng những cây nấm khói đen quằn quại với dây lửa quấn quanh thân, gốc phình to rất nhanh. Rốc kết từ cánh máy bay phụt xuống kéo theo một sợi khói mỏng, rít lên tiếng cưa sắt rởn gáy, xói đất nổ sâu từng chùm "rééét-ùng". Đến trọng liên cục cục, pình pình, rạch ngang chém dọc. Máy bay Mỹ thường giết người theo ứ tự ấy, có thay đổi chăng chỉ là đốt bằng napan trước hay xé bằng bom tạ trước.

Má Bảy và mẹ con chị Đa ngồi trong hầm bị vật qua ném lại. Sườn hầm sụt như bờ sông lụt. Những khúc cây to đỡ trần hầm nẩy răng rắc, tưới đất bột từng vốc xuống đầu. Ban nãy chị Đa nhân lúc ngớt pháo mang hai con chạy qua núp chung với má Bảy. Chị cần người để dựa. Chị cầu Chúa, Phật, Trời không ngớt miệng nhưng cảm thấy các vị ấy không gần bằng bà hàng xóm cứng bóng vía.

- Há miệng ra chị! Bịt tai lại!

Phút hoảng sợ đầu tiên đã qua.

Khi sống và chết cách nhau một sợi tóc, má tỉnh hẳn, má khỏe lại. Những thói quen hồi đánh Pháp vụt sống dậy. Bình tĩnh là thoát. Thằng Mỹ trên máy bay cố giết má, giết mẹ con chị Đa. Má đang đánh nhau với nó trong cái hầm này. Giữ được bốn mạng người là má thắng, nó thua. Má đã che chở cho Sỏi và Sâm nhiều năm, má biết tránh bom đạn, má biết cả những cái vụng dại của người chưa quen bom đạn.

- Đừng dựa thành hầm, đất xô nhào bây giờ! Ngồi chồm hổm vầy nè!

Một búng xăng đặc giống muối bột văng qua miệng hầm, xòe lửa xanh bên chân thằng Túc. Nó chồm tới ôm ghì má Bảy.

- Ngồi yên, thả ra cháu!

Má bốc đất dập lửa. Mùi pháo xiết xốc vào mũi ngạt thở, ngả sang mùi nồng của ô tô qua đường. Má chưa nghĩ rằng quả bom napan ấy ném vào nhà má nên xăng đặc mới vãi đến tận đây.

Má cháy ruột lo cho hai con má, nhất là cho Sâm. Hễ Sâm bước ra khỏi nhà là mang đi mất nửa người của má. Nó mới tập bắn hai buổi chiều đã ra trận. Nó chịu xuống hầm, hay lại nô giỡn với tàu bay đại bác? Má không giữ, không khóc, để nó ra đi cho bằng chị bằng em, nhưng trong lúc gay go thế này má muốn nó nhỏ xíu lại để má ghì nó vào lòng tránh mảnh, má muốn má trẻ lại để chạy bên con trong hào giao thông. Ở đây xa địch mà còn điếc tai long óc vậy, nơi con má đang đánh giặc còn dữ dội gấp bao nhiêu lần? Chao ôi, sao má không theo được con?

Một tràng trọng liên quét ngang miệng hầm bùng bục, phun những tia đỏ bay cong queo vào tận ngách trong. Chị Đa rú lên, ôm đầu hai đứa trẻ ép vào ngực, bịt tai chúng. Má Bảy đập tay chị:

- Bắn đui xết đó, hết bom rồi. Hầm tôi đui xết gãi ngứa thôi.

Chị Đa khóc sụt sịt, cái khóc dãn gân sau cơn sợ kéo dài. Đang lúc nhớ con, má gắt:

- Khóc lóc cái gì? Khóc cho rớt được tàu bay thì khóc!

Tre nổ từng tiếng rời rạc, như ai dậy sớm còn ngái ngủ đang gõ chốt tháo cổng chuồng trâu. Khói xám từ từ bò vào miệng hầm, cuộn tròn trong khung sáng. Không phải khói cay của chất nổ hay khói nồng của napan. Má ngửi cái mùi đăng đắng, nhớ lại búng xăng và tràng trọng liên, hiểu ngay:

- Cháy nhà rồi. Lá dừa nước của thằng Tùy mà cũng cháy hè... Coi bộ tàu bay Mỹ bắn dai hơn thứ cổ rùa cổ ngỗng của Tây, Mỹ giàu hơn Tây mà. Bây giờ nó bắn người chữa cháy đó.

Má nói một mình, dửng dưng như kể chuyện gì không dính dáng tới má. Má đã coi như nhà cửa bỏ đi, thân má không còn. Chỉ cần con má sống để trả thù, để truyền cái thù cho năm bảy đời sau đời nào cũng trả. Má phải đi tìm con. Nếu quân giặc vây nó, má sẽ cào cắn cản giặc cho con má thoát. Giặc bắt nó, má đánh tháo, má chết thay...

Sau một loạt đạn mới, má thò đầu ra dòm. Nhà trên sụp hẳn. Nhà bếp đang cháy, nhả từng tấm tranh rần rật lửa lọt qua đòn tay rớt xuống nền. Lửa bắt đầu bén sang chuồng heo. Con heo húc chuồng eng éc. Má chợt thấy thương nó buốt ruột, không tiếc của mà chỉ thương nó chết oan. Má nhảy mấy bước tới rút cây gài, đạp cửa chuồng heo, vọt qua một thân dừa đổ, trở về hầm, vừa kịp thoát một chùm đạn quạt xuống sân tóe lửa và mảnh. Chiếc máy bay hụt mồi sầm sầm lướt qua sát ngọn tre rít một tiếng dài cáu kỉnh. Má lại nhô lên. Con heo đã chạy tới ngõ, khúc đuôi nhỏ tí vắt tròn trên cái mông đen. Một chiếc máy bay khác bắt đầu chúc mũi.

Má lùi lại, cười gằn:

- Dễ gì ăn heo của tao!

Đến khoảng chín giờ sáng, tiếng máy bay mới tắt hẳn. Nhà má Bảy cũng vừa cháy hết, chỉ sót vài cây cột gỗ đứng giữa than hồng, lửa bò lem lém dọc thân. Một cây cột to đội ngọn lửa cháy phần phật trên đỉnh như khúc nến.

Má xăm xăm đi tìm con. Chân tay má giậm giựt. Con dao phay văng ra hè, cạnh xác con chó con lòi ruột còn quẫy nhẹ chân sau. Má nhặt con dao cầm tay. Gặp địch là chặt. Lựa thằng Mỹ mà chặt. Mạng đổi mạng. Một tấm vỏ bom napan nằm đầu sân như tờ giấy thiếc vò nhàu. Má đá nó sang bên, đạp luôn hai đạp. Hết chỗ nói. Súng nhỏ nổ như bắp rang phía Đồng Mè. Giặc đang ùa tới. Con má đâu rồi? Con má đâu? Con má đâu

Một anh du kích từ cuối thôn chạy lên, mặy trắng như bẹ chuối, ống quần toạc ngang gối gần đứt rời. Anh líu lưỡi:

- Nó vô... ba cánh... chạy, chạy mau...

- Du kích đâu hết rồi? Thằng Sỏi con Sâm đâu?

- Còn dưới đó... nó bọc đông quá...

Má trợn mắt:

- Anh em bị bọc mà mày trốn về? Mày lủi phần mày à? Đánh thí xác cho tao, chết tao đẻ đứa khác tao đền!

Ông Nhâm đi tới, cầm lăm lăm cây mác, máu mũi nhỏ giọt xuống râu:

- Bay giết cho tao một thằng, chục thằng... Rút dù hả? Về nằm với vợ, đưa súng đây tao. Tháo nịt ra. Tao biểu tháo là tháo!

Ông giằng cây súng trường 86/93. Ông thắt nịt đạn vào bụng, cười khẩy:

- Mày không dám đánh thì tẩu cho xa, để bạch đầu quân ra trận. Đ. mẹ, nó lên được Đồng Dừa cũng phải đạp xác tao mà lên. Nội bà con đây, ai muốn đánh ta đi luôn thể?

Từ các nhà cháy, các vườn cây đổ, các hầm hố bị cày xới, đồng bào túa ra đông chật ngõ, gào chửi giặc, khóc, gọi nhau ơi ới. Bà con tìm cán bộ, du kích, hỏi nhau giặc càn đến đâu, bây giờ làm gì. Một số quẩy gánh chực chạy lên Kỳ Lâm, qua

Chị Năm Tân quần vo quá gối, đeo túi bên hông, đứng trên một thân dừa trốc gốc, vành tay lên miệng làm loa:

- Anh em du kích đang đánh giặc ở Đồng Mè, ở Đồng Mè. Tụi nó chưa vô Đồng Trầu được... Tản cư về Kỳ Minh, Kỳ Lâm không xong đâu, ở đó cũng đang chống càn. Bà con đem chông ra cắm thêm mặt trước! Phụ lão với thiếu nhi lo săn sóc người bị nạn, dập lửa cứu lúa, còn tất cả bà con đem chông xuống bố phòng mặt trước!

Ông Nhâm thét mấy người đứng gần:

- Tìm chông đi cắm mau, lơ ngơ cái gì? Bỏ con em đánh một mình à!

Nhiều tiếng kêu tiếp liền:

- Chín, xách cái mác ra đây cho anh!

- Thằng Hai, con Tám, nghe chị Năm nói gì không?

- Bà ơi bà, về tìm trâu để cháu đi!

Súng máy quét rào rào dưới kia. Súng cối 81 và 60 ly nện những tiếng đập thùng tôn, thùng gỗ. Các tổ du kích vẫn quần với hàng ngàn địch trong các vườn dừa. Súng trường bắn lẻ gõ từng phát "cắc bụp" chắc nịch. Lắng tai nghe còn nhận ra cả súng săn nhả đạn một tiếng "phịch" như vập cái thúng.

Hai Ngọ và mấy chị em nữa kéo lên gọi thêm người. Ban nãy Ngọ bắn máy bay liên tiếp bốn phát không trúng, bị nó thổi lại mươi quả rốc kết. Ngọ cầm mõ đánh báo động tam liên, rảo qua các

- Cốc cốc, cốc! Bớ thanh niên, ra xung phong đánh giặc giữ làng! Hy sinh vì nước đây bớ thanh niên!

Chừng ba trăm bà con Đồng Dừa xách chông vác mác theo chị Năm đổ xuống tiếp sức cho du kích, uất đến cái mức ghé răng cắn cổ giặc. Má Bảy chen trong đám đông, tay cầm dao giơ hờ ngang vai giống hồi tháng tám đi lấy huyện. Người má hừng hực như đuốc. Má cùng đánh với con.

Đến một khúc đường ven đồng, má trông thấy địch đổ bộ trực thăng ở Kỳ Lâm. Bốn chiếc AD.6 lặn hụp sau dãy đồi Chà Là lượn sóng, bên kia sông Nhỡn. Bầy trực thăng từ tỉnh lên đấy bay từng tốp ba chiếc một, cánh quạt lưng rung nắng như cánh chuồn chuồn. Những chiếc bay đầu sà xuống chỗ khói trắng đang bốc. Chúng đổ bộ sau lưng Kỳ Bường, chặn hết đường lui. Má "hự" một tiếng, nhổ nước bọt. Ai lui mà bay chặn? Càn cho rộng để chết cho nhiều, cứ càn đi!

- Bớ đồng bào, ra chia lửa với con em đây bớ đồng bào!

Dưới một cụm dừa xòe bóng rợp, một chị quần xắn đến bẹn, hai tay ẵm con, đang lấy bàn chân lật cái chõng tre nhỏ nằm ngửa dưới đất. Trông như chị mới đi cấy về, vừa cho con bú xong, đang đặt con ngủ để rảnh tay nấu cơm. Đám đông kéo đến. Chị quay ra, và mọi người thấy chị Ơn bế một cái xác. Đứa bé bị mảnh bom sả giữa mặt. Chị đặt con xuống chõng, cởi chuỗi thánh giá ở cổ mình đặt trên ngực con. Chị nói gì với bà thím đang sụt sùi, bước lại cầm con dao thái chuối to bản, nhập vào dòng thác người với cái áo trắng loang máu trước ngực. Đôi mắt chị vẫn trầm lặng như mắt mẹ Maria trong tượng ảnh, nhưng một khóe môi chị cứ nẩy từng lúc thành một kiểu cười cay đắng và dữ

Ở cuối thôn, chị y tá huyện đang băng cánh tay trái cho một ông già tóc trắng. Một luồng nắng xuyên kẽ lá soi trên gò má rỗ hoa. Những người đi đầu reo truyền lại sau: "Ông Chín kia! Anh Chín đó!". Chị Năm Tân chạy vọt tới. Khối óc của phong trào hiện lên lúc này như một cây đèn biển lớn trồi lên giữa các đèn nhỏ. Anh Chín kéo vội ống tay áo bà ba trùm lên chỗ băng. Anh chỉ cho chị Năm các hướng địch có thể đánh vào, cần rào thêm và cắm chông dày hơn.

Chị em du kích đón bà con dẫn tràn ra đồng, vừa cắm chông vừa lùi dần vào lũy tre. Chỉ nửa giờ sau, cánh đồng đã chơm chởm những chông cao thấp không đều, cấy chen với các bụi lúa mới bén gốc.

Tiếng mõ báo động vẫn đổ hồi, bay qua các ngõ, kéo nốt những người cuối cùng ra trận:

- Bớ làng trên xóm dưới, ai còn sống ra đánh giặc cứu nước! Thà chết không làm nô lệ đây bớ bà con! Cốc cốc, cốc!

*

Bọn biệt động quân đã tiêu hết tiền tử trước khi ra trận. Chúng đeo mỗi đứa hai bi đông rượu, rút dao găm cắn ngang miệng, dẫn đầu cánh quân đánh vào Đồng Mè.

Chúng tỉnh rượu khá nhanh khi đạp trên chông, ngã ngồi trên chông, lăn ra giữa chông để tránh súng săn khạc chì giữa mặt, chạy lại còn bị đạn súng trường đuổi theo cắm vào lưng. Khoảng ba chục tên nằm cứng đ hoặc ngắc ngoải giữa ruộng, trên bờ, chân tay vặn vẹo trong những kiểu nằm rất trái thói, áo sổ hết ngoài quần, máu loang trên vải rằn ri và cái huy hiệu "cọp trắng giữa rừng xanh" hình lá mộc đeo bên vai. Bầy cọp không nuốt nổi con nhím dựng lông.

Tít đằng xa, sát bờ xương rồng của xóm Ga, có lác đác vài cái xác mặc đồ xanh tây di của quân chính qui. Bọn này hầu hết là lính quân dịch. Chúng chỉ dò dẫm theo sau thật xa, động nghe nổ là nằm úp mặt, chổng súng Garăng lên trời lẩy vội từng kẹp tám phát cho mau hết đạn, nhẹ lưng lại được về sớm.

Khi đợt xung phong thứ ba bị đánh bật lùi, du kích bắn yểm hộ cho nhau vọt ra lấy được hơn chục cây súng. Anh em đang chia lại vũ khí thì Sâm và Trấu chạy tới, nhảy xuống hào, hỏi ba hơi nhập một:

- Anh Sỏi đâu? Anh Bê đâu? Các anh can gì không?

Anh em cũng xúm lại:

- Đồng Dừa cháy ra sao? Pháo dập xóm nào?

Sỏi thấy mặt Sâm đen loang lổ, giật mình ngỡ em trúng bom cháy. Nhưng nhìn lại bộ râu trên mặt Trấu, Sỏi bật cười to:

- Tụi này mần tuồng hả bay? Thôi để hai đứa nó thở đã, coi bộ mệt đứt hơi... Nước đây, uống đi, rồi nói nghe thủ trên mình hề hấn gì không. Tổ cha thằng Mỹ, nhè sau lưng mình cắn miết từ sáng tới giờ!

Thì ra trong khi bà con ở mặt sau lo cho du kích, anh em ở đây lại nhức nhối theo dõi đại bác rồi máy bay đánh phá Đồng Dừa. Bọn địch lầm to. Chúng tưởng quân bộ sẽ ập vào hai thôn dưới rất dễ, nên dành bom đạn cho khu vự sông Nhỡn để chặn chủ lực ta đến cứu Kỳ Bường. Những đơn vị mang súng "hai chân ba cẳng", đã hốt trên mười xã đồng bằng trong một đêm, chắc còn lảng vảng đâu đấy.

Thấy các anh bồn chồn, Sâm đưa mắt cho Trấu rồi nói bừa:

- Trên đó không sao hết. Cháy sơ sơ mấy cây rơm. Thiệt mà... Cháy đâu hả? Không biết, em chạy gấp xuống đây...

"Pắc pắc pắc pắc!"

Một loạt tiếng nổ đầu nòng súng cối bật lên phía ga. Sỏi hô anh em tản ra, túm vai hai cô ấn ngồi thấp xuống. Hơn chục quả cối 60 nổ mé sau con hào chừng năm chục thước, mảnh bay đan nhau veo véo.

Sỏi dúi vào tay em một cái gì lạnh. Sâm nhìn xuống, chưa tin mắt mình. Đó là một cây súng săn Mỹ có ổ đạn lắp được sáu viên, nhẹ như các bin, lên đạn bằng tay trái rất nhanh, nước mạ xanh xám còn mới tinh. Chị xã đội phó Kỳ Minh mang một cây thế này qua họp. Chị bày cho Sâm cách bắn và tháo lắp, Sâm mê lắm.

Sâm ghé tai anh, hỏi trong tiếng nổ của loạt đạn cối khác:

- Cho luôn chớ anh?

- Phát luôn. Đạn đây nè. Đâu sáu chục viên, còn ăn hết nhịn.

- Hoan hô! Phần con Trấu cái gì anh?

- À à... đưa cây calíp của em cho nó. Bù một trái

Sỏi quay lưng lại để Sâm rút lựu đạn. Thấy anh có đến bốn quả cài bằng mỏ vịt vào thắt lưng, Sâm rút luôn hai quả. Chà chà, mới đánh một trận đã phát tài to. Sâm chỉ đi thăm cũng được hưởng cái mà phường săn gọi là "phần hờ". Sâm bỗng thấy thương anh ghê quá. Sâm vỗ vỗ vào lưng anh. Sỏi quay lại:

- Gì đó?

- Hoan hô ông xã đội chút thôi... Tên nó là súng gì anh?

- Nghe kêu là đờ-mi-tông 1. Ưng chớ?

- Ưng số dách!

Sỏi cười khì. Loại súng ấy dùng bắn tỉa hay bắn máy bay không được, ban nãy anh em đùn mãi cho nhau. Sỏi để dành nó cho em gái. Khi biết chi bộ đồng ý để chị em ra trận và liệu bề không ngăn nổi Sâm, Sỏi muốn giữ em yên lành với một cây súng bắn tự vệ rất tiện.

Đạn to quá. Sâm lồng thêm hai cái bao vải nữa vào thắt lưng mới đựng hết phần đạn của mình sau khi chia cho Trấu. Vừa giật khóa nòng cho đạn nhảy thử xuống mũ, Sâm vừa hỏi chuyện đánh nhau. Trung đội du kích xã chia hai cánh. Cánh của Bê và Sỏi giữ Đồng Mè. Cánh Đồng Trầu do anh Trưng chỉ huy, có anh Dõng cùng đi. Cả hai bộ phận đều đánh gắt từ sáng sớm đến giờ.

- Bên ta can gì không anh?

Sỏi liếc nhìn Trấu đang rút ngắn bớt cái thắt lưng Mỹ dài đủ khoanh hai vòng quanh bụng, nói nhỏ

- Anh Bề hy sinh. Bị thương hai. Xuống hầm hết rồi, tối chuyển đi.

Mặt Sâm lạnh ngắt. Đang lúc ồn ào, Sâm nghe ra anh Bê. Sỏi chép miệng:

- Ẳnh đánh khá lắm. Ba con mà xung phong vô du kích, thiệt tội.

- Anh Mười Bề phải không?

- Chớ ai nữa.

Sâm thở phào. Qua cơn sợ, Sâm lại thấy xấu hổ vì thương anh Bê hơn anh Bề. Sau càn Sâm sẽ cấy giúp chị Bề, rủ mấy đứa nữa đến an ủi chị. Còn bây giờ Sâm phải gặp anh Bê một tí cho công bằng. Anh ấy nắm một tiểu đội bố trí dọc con hào này, cách chừng ba trăm thước. Chính nhờ tiểu đội bên ấy bắn lướt sườn mà anh Sỏi lấy được súng chia cho Sâm. Gặp anh Bê là phải. Ai dám nói cọc đi tìm trâu? Nói tầm bậy tầm bạ...

Sâm đi một mình dưới hào, lý sự như vậy. Thỉnh thoảng Sâm rướn cổ nhìn qua lũy tre mé bên trái, xem địch bên kia cánh đồng. Địch trốn đâu mất. Súng to súng nhỏ im hết. Chắc chúng rút rồi, hay nghỉ ăn cơm trưa. Chỉ có tiếng loa binh vận đằng trước, nơi Sâm đang đi tới. Giọng nửa trống nửa mái của cậu Chuân gọi lính địch quay súng. Chẳng biết có phải nghe tiếng loa không mà chiếc tàu rà xuống thấp dần, quần những vòng số 6, số 8 qua đầu Sâm, lấc láo tìm cái gì.

Một con chó bật sủa bên phải Sâm, Sâm nhìn lên. Một cái mũ sắt nhô lên sau hàng rào chè tàu, xoay qua lại. Anh du kích nào đội mũ địch dại vậy, dễ bị bắn lầm lắm. Cái ngực áo vằn vện lòi ra. Thêm một mũ sắt thứ hai

Sâm buột miệng: "Úi!". Tên biệt động quân quay mặt lại, vừa gặp họng súng săn của Sâm chĩa lên, phun lửa. Nó bật ngửa như bị đạp giữa ngực. Sâm chưa kịp tì, bị báng súng thúc vào vai đau tức thở.

Tay trái Sâm lên đạn như máy, tay phải cũng bóp cò như máy. Phát thứ hai xả vào giữa đám mũ sắt lố nhố. Tiếng rú nổi lên rồi tiếng gào:

- Biệt động, sááát!

- Bắt sống Việt cộng!

- Đ. mẹ, tiến, xung phong!

Sâm đâm đầu chạy. Phát thứ ba nổ lên trời, Sâm vô

ý bóp cò. Chúng xung phong rồi. Sắp bắt sống rồi. Ôi khiếp quá! Ríu chân ngã dúi, lại chạy. Đạn bay qua đầu Sâm bốp bốp rắc rắc. Một tảng đất rơi trên vai Sâm như quả đấm. Sâm rên một tiếng, vùng mạnh vai cho tên địch nào đó chụp trượt, chạy ào tới, tay túm dây súng kéo lê theo. Sâm húc đầu vào sườn một người đứng trong hào đang bắn. Anh nhảy lùi lại. Anh Bê!

Bê vung cây tiểu liên sắp quật. Sâm ngã ngồi, lắp bắp:

- Em... em đây mà!

- Ai?

- Em... Sâm đây... nó đuổi...

Bê chĩa súng vào ngực người mặt đợt nhận ra Sâm. Suýt nữa... Bê chồm lên chỗ bậc bắn:

- Lựu, ném lựu mau!

Một quả tròn xám bay vút khỏi tay Bê về phía hàng rào. Địch không ùa tới được. Trong lòng cái hàng rào chè tàu hiền lành ấy có lồng những sợi thép gai rất khó thấy, móc thịt chúng lôi lại. Chúng nằm xuống hò hét, bắn xối xả vào con hào mà chúng định đánh úp sau lưng. Đạn chỉ ném văng những cành tre.

Sâm tạm hoàn hồn, rút lựu đạn giơ lên quá vai. Chợt nhớ ra, Sâm rụt tay lại, cắn chốt, rút chốt, ném, nhô đầu nhìn theo. Quả lựu đạn rơi cách hàng rào một quãng, còn chịu khó lăn thêm đến chân rào mới nổ. Sâm nhoẻn cười. Thích rồi. Mệt ghê.

- Rút, Sâm!

Bê đẩy Sâm chạy trước mình, theo một cái lưng áo ướt sũng mồ hôi.

Phía xóm Ga, quân địch ùa ra đen đồng đang tràn tới, hai gọng kìm khép lại. Hai làn đạn cùng quét vào khúc hào và lũy tre, nhưng chúng chưa đến gần được. Tiểu đội của Bê lọt vào giữa, vừa rút vừa bắn cản địch. Chạy chừng năm trăm thước, họ thoát khỏi cánh quân bọc sau.

Anh du kích trước mặt Sâm nhảy lên bờ hào, đứng bắn hai phát ra đồng. Sâm nhận ra Quảng, cũng một cậu bạn chăn trâu. Sâm nhảy theo, trượt ngã ngửa vào người Bê. Chân tay dại cả. Chạy nhiều quá từ sáng đến giờ. Bê xốc Sâm lên, hỏi dồn:

- Em bị thương đâu?

- Không... m>

Bê nhấc bổng Sâm, đặt ngồi trên bờ hào. Cả hai không kịp xấu hổ. Sâm chống súng đứng dậy, trong lúc Bê đưa cái còi lên thổi một hồi toe toe. Mấy tên địch đến sát lũy tre vội nằm bẹp xuống ruộng, kêu nhốn nháo. Thằng sau cấn thằng trước, chúng không dám bắn thấp.

Tiểu đội du kích rời khỏi hào, nối đuôi nhau chạy sâu vào vườn dừa. Tiếng gào của giặc xa dần. Yên ổn cả. Qua hết quãng vườn này và một cánh đồng hẹp nữa sẽ đến tuyến bố phòng thứ hai đặt ven xóm Đình.

Bê nhìn lên, kêu:

- Quảng, mau lên chút! Đứt xa rồi kìa!

Quảng đi lảo đảo mươi bước nữa, dừng lại. Sâm kêu khẽ, nhảy lại đỡ Quảng. Mặt Quảng xanh nhợt. Một vệt máu nhỏ trên ngực loang chậm. Quảng chặn tay trên ngực, thều thào với Bê:

- Anh... lấy súng... đi trước..., đưa tôi trái lựu...

- Mình dìu đi.

- Địch theo... Để tôi lại...

Tay Quảng run khi đẩy cây súng trường vào người Bê, rồi quờ vào thắt lưng Sâm định rút trái lựu đạn. Như bị cánh tay nặng kéo mất đà, Quảng ngã chúi luôn. Bê kịp quì xuống, ghé vai nâng:

- Níu cổ mình cho chắc.

- Kệ tôi... rút đi mà...

Quảng lịm trên vai Bê. Bê móc quai súng của Quảng vào khoeo tay trái, túm hai tay Quảng, xốc đứng lên. Sâm vội rút cái khăn quàng, buộc cổ tay Quảng ôm quanh cổ Bê. Để Bê cõng đồng chí bị thương đi trước, Sâm lấy chân gạt một mớ lá khô phủ vội hai bàn chông sắt vừa đặt trên đường mòn. Vừa chạy theo Bê, Sâm vừa lắp thêm đạn vào súng. Đỡ mệt rồi. Chỉ cần dừng lại thở một tí là Sâm khỏe ra ngay. Tiểu đội du kích chạy hàng dọc nên không biết Quảng bị thương, lúc này đã mất hút.

Sau một bụi ngũ sắc bỗng có tiếng kêu hoảng:

- Nó đây!

- Bắn, bắn đi!

- Việt cộng! Báo cáo, đụng Việt cộng!

Bê và Sâm đã gặp cánh quân địch thứ ba cắt đường bọc sâu sau lưng. Một tiểu đoàn bảo an. Chúng đang đi nối đuôi nhau qua các vườn hoang rất nhiều gai, chưa kịp tản ra.

Tổ đi đầu cuống quít giơ súng giật cò. Một viên đạn xẹt qua cổ Sâm nóng rát. Bê gầm trong họng, xoay lộn người lại, kẹp cây Tuyn dưới nách phải, quạt luôn. Hai loạt tiểu liên quật gọn bốn tên lấp ló cách mươi bước. Bọn đi sau nhào sấp, gào: "Báo cáo trung sĩ... báo cáo thiếu úy...". Chúng bắn trả lác đác. Bị thít cứng trong vườn rậm, cả tiểu đoàn nằm bẹp xuống tại chỗ, chĩa súng ra hai bên mà bóp cò lấy tiếng nổ. Chỉ có tiểu đội đi đầu vừa trông thấy Bê đã ăn đạn ngay, đang khiếp hồn.

Sâm nhảy đến quì nép vào gốc dừa. Chân tay Sâm mỏi nhừ vụt cứng lại. Địch chặn khắp nơi. Ba anh em bồn vào chân tường, không chạy được, không kêu được. Giết chúng mới thoát.

Cả người Sâm lồng lên như con ngựa non bị quất. Sâm long mắt tìm những bóng mũ rừng chúi dưới lá. "Vây à? Chực bắt giết à? Giết nè! Bắt nè! Việt cộng đây! Việt cộng đây!". Sâm nện sáu phát chắc nịch. Bắn xả vào quân giặc dồn đống ngay trước mặt, cây súng săn trở nên dữ dội như đại liên. Từng chùm đạn chì xòe rộng như nơm chụp lấy bọn bảo an. Giữa hai tiếng nổ, Sâm nghe rõ những cây thịt đổ bịch, rống, giãy, kêu cứu. Hả vô cùng. Sướng tay vô cùng.

Búa súng đập một tiếng cốc. Hết đạn. Tiếc quá, Sâm muốn bắn nữa. Sâm quờ tay móc bao, chạm phải quả lựu đạn thứ hai đựng trong túi vải. Sâm giật tung cả lựu đạn lẫn túi, rút chốt, đưa mắt chọn chỗ rất nhanh, rồi lẳng ngang vào chỗ có tiếng thằng chỉ huy. Ném cao sợ trúng cành cây bật lại. Lựu đạn nổ gần quá, một mảnh cắm phập vào gốc dừa Sâm núp. "Còn vây nữa thôi? Biết tay Việt cộng chưa?". Sâm chạy vọt theo Bê, lại lắp đạn.

Bên phải Sâm, mấy cây dừa bỗng rung bần bật như nổi sốt rét, phun vỏ ra chung quanh. Một khẩu trung liên địch đang xổ hú họa vào đấy hết băng này đến băng khác. Sâm quay lại, thấy một lùm cây cách chừng năm chục thước đang phụt khói. Sâm ngắm cẩn thận, lẩy ba viên. Khẩu trung liên tắc họng. Địch chạy sàn sạt như trâu trong bụi. Một cái lưng đeo ba lô vuông bỗng nhô ra. Chúng tắc tị như cá vào lưới, loạn hướng, loạn đội hình. Sâm bóp cò. Cái lưng thụp vào bụi, nhường cho cặp chân mang giày rừng thò ra đạp, giãy.

Sâm bật cười thành tiếng. Hễ anh Bê hô xung phong, Sâm nhào tới giật súng địch ngay cho coi? Nhưng Bê vẫn cõng Quảng chạy lúp xúp. Sâm một mình chặn địch, giữ cho cán bộ và thương binh rút khỏi vòng vây. Thích không, Sâm thắng trận đầu rồi đây nè. Sâm thành chiến sĩ thật đây n

Sâm kẹp súng dưới nách, đi mươi bước lại quay đầu xem mặt sau và hai bên, như một anh bộ đội lão luyện đi hậu vệ. Đâu đó, mắc trong đám gai không gỡ nổi, tụi bảo an vẫn bắn vung tàn tán và gào to cho đỡ sợ.

*

Họ thoát vây.

Hai anh du kích gác mặt sau của thôn Đồng Mè, bị súng cối bắn rát, đã bỏ chạy về Đồng Dừa từ sớm. Đồng bào núp dưới hầm, không kịp báo cho Bê khi hai cánh quân địch bọc lưng ập đến.

Đường về tuyến hai bị chặn. Bê quyết định ở lại Đồng Mè đợi tối. Băng qua các lớp rào, các bãi chông, hầm chông được đánh dấu theo lối riêng, Bê vào một khu vườn hoang khác cũng chi chít những gai bớm, bàn lồ, vầng châu. Đồng Mè là thôn bị bắt đi dinh điền nhiều nhất nên có nhiều vườn vắng chủ nhất. Bê dùng tiểu liên làm nạng nâng gai cho Sâm chui qua trước, Sâm lại đỡ gai cho Bê cõng Quảng luồn theo.

- Em ngồi đây nghe.

Bê đặt Quảng ngồi dựa gốc cây. Sâm đỡ một bên. Quảng vẫn nửa mê nửa tỉnh, thở nặng nhọc, có cái gì kêu rò rò trong họng. Sâm lấy khăn tay lau máu ứa ra ở khóe miệng Quảng, cũng ứa nước mắt theo. Bây giờ Sâm mới kịp thương Quảng.

Bê chui vào bụi chè to úp tròn như mâm xôi, tìm cái h bí mật cũ. Đánh bật lửa soi qua loa xong, Bê leo lên đón Quảng.

- Em xuống trước, đỡ giùm cậu ta.

Sâm níu tay Bê, trụt xuống cái lỗ vuông tối om, lạnh, nồng nặc mùi lá mục. Chân vừa chạm đất, Sâm chợt nhớ đến rắn, cóc, chuột, giun, những thứ khủng khiếp nằm chực sẵn trong những hầm bỏ lâu không dùng. Sâm rủn người muốn ngoi lên ngay. Nhưng hai chân Quảng đã thò qua miệng hầm. Sâm cắn răng đỡ lấy, cố quên sợ. Sâm xốc nách Quảng kéo vào trong sâu. Thế là hết hoảng. Bê xóa dấu xong cũng trèo xuống, đậy nắp.

Căn hầm này do đội võ trang công tác và cơ sở Đồng Mè đào trước đồng khởi, đủ chỗ bốn người nằm, có cả ngách phụ và cửa gỗ chống lựu đạn thả.

Bê châm cái đèn ve rượu bạc hà, trải tấm choàng, đặt Quảng nằm trong ngách kín, cởi áo xem vết thương. Sâm hỏi:

- Nặng không anh?

Bê bận lẩm nhẩm đếm mạch, không đáp. Sâm bắt đầu run. Bê quay lại.

- Trúng phổi bên phải. Mau lành thôi.

- Trời, em lo quá!

Bê rửa vết thương bằng nước chè trong bi đông, bôi cồn, cắt băng dính ra băng. Bê còn lấy ống tiêm luộc sẵn trong bao ra tiêm cho Quảng một mũi kháng sinh. Sâm cầm đèn ngồi nhìn rầu rĩ. Sâm không làm được gì để giúp Quảng cả. Sâm vụng dại quá, anh Bê lại giỏi quá.

Xoiệc, Bê tắt đèn ngay. Đèn dầu lửa bốc khói nhiều, khó thở và dễ lộ hầm. Quảng đã ngủ yên, thở đều.

Sâm ngồi đối mặt với Bê nhưng không thấy anh. Tối ghê. Sâm dựa đầu vào vách hầm, nghĩ lơ mơ, chợt nhớ câu chuyện anh Dõng kể hôm nọ. Anh nói xuống hầm bí mật hai gái một trai thì trai mệt, hai trai một gái thì gái mệt. Nếu chỉ một trai một gái... Anh nói đứng đắn nhưng Sâm tưởng bị trêu, chạy mất. Sau Sâm hỏi lại chị Năm, chị cũng nói y vậy. Chẳng kể nhiều ít, hễ số trai và gái bằng nhau thì cả hai bên đều dễ thở. Có lẽ vì thế mà hồi trước đồng khởi Sâm ngồi hỏi chuyện anh Bê dưới hầm cả buổi không bị ngạt. Sâm mỉm cười, tự dưng thấy ngường ngượng.

Lúc này một khối gì bắt đầu chặn trên ngực Sâm. Nó nặng dần. Sâm thở gấp dần. Phổi Sâm nhỏ lại hay Sâm ngạt mũi? Đầu Sâm quay quay. Sức sống của thân thể dồn cả lên đầu. Chân tay càng rã rời, đầu càng quay nhanh, nổi tiếng gió vo vo.

- Sâm nè!

Sâm cố mở to mắt, bóp hai thái dương cho đỡ chóng mặt.

- Địch vô Đồng Mè, chắc sắp sửa xăm hầm. Bây giờ em ở đây trông Quảng, anh ra ngoài cản tụi nó. Ra bớt một người cũng dễ thở hơn. Ba ống thông hơi, mối đùn lấp mất hai rồi.

Sâm suýt kêu lên ngạc nhiên.

- Anh núp trong bụi cây cách hầm năm bảy chục thước. Hễ địch đến xăm hầm, anh vừa bắn vừa nhử tụi nó đuổi theo. Em giữ tiểu liên, đưa...

- Không! Em ra, anh ở lại!

- Em mệt chạy sao nổi...

Sâm giẫm gót chân:

- Chạy được! Anh phải lo cả xã. Tụi nó đông quá, anh ra anh chết mất. Em là du kích, em phải giữ cho anh, cho Quảng.

Giọng Bê lạc đi:

- Em nghe anh...

- Không, không, để em ra. Anh kỳ lắm!

Sâm tức mình, nhoài người qua chân Bê, định bước tới miệng hầm. Bê vội nắm cổ tay Sâm giữ lại. Sâm vùng vằng giật ra. Giật không nổi, Bê nắm rất chắc. Và Bê lẳng lặng nâng bàn tay Sâm áp vào ngực mình, nơi vừa dội lên một tiếng nấc trầm, sâu.

Sâm giật thót, nghĩ vội: "Gì vậy? Hay mình mê ngủ!". Sâm há miệng, nhưng tiếng "á" không bật ra. Tay phải Sâm rời súng đưa nhanh lên định chống đỡ, dừng lại, ngập ngừng đặt trên đầu gối Bê, êm như một lời an ủi. Sâm ngước mắt, muốn hỏi: "Thật à? Thật không anh?". Đôi mắt người con trai cháy lóng lánh. Câu trả lời nồng nàn không chịu nổi. Sâm lả đi trong ánh mắt ấy. Hồi hộp, sợ nữa, Sâm bắt đầu trôi bềnh bồng trong một đám mây vui.

Căn hầm chìm sâu vào lòng đất. Cái vắng và tối dày đặc trong hầm bí mật vẫn rất lạ đối với Sâm, vốn quen nghe những tiếng động và thấy những ánh sáng không bao giờ dứt trên mặt đất. Nó giống cái vắng tối của chiêm bao. Sâm chập chờn thấy mình đang sống trong mơ, không xấu hổ, không muốn thức dậy.>

Một tiếng rên từ góc hầm vẳng đến. Sâm và Bê cùng bị điện giật, cùng bước ngay lại chỗ Quảng. Bê đánh bật lửa sờ trán, xem mạch.

Quảng đã khỏe, đòi uống nước. Quảng hỏi mấy câu, quờ tay nắn cây súng của mình bên vách hầm, xong lại thiêm thiếp ngủ. Bê nâng đầu Quảng cho ghé gần ống thông hơi chưa bị lấp, tháo tấm dù quàng cổ ra đắp trên mình Quảng.

Một lần nữa, Sâm và Bê lại ngồi đối mặt nhau mà không thấy nhau.

Sâm vòng tay thoăn thoắt búi lại tóc. Sâm lặng im, nhưng những ý nghĩ tròn và trong trong như một chuỗi hạt trai cứ tuôn trong óc Sâm. "Chúng mình đang chơi ú tim. Đố anh biết em đang nghĩ gì? Em nghĩ: anh yêu em. Tội nghiệp. Lâu nay em đã ngờ ngợ, nhưng anh cố giấu. Còn em, em cũng... ưng anh mà anh không biết. (Sâm nhoẻn cười, chớp đôi mắt rất nóng). Quảng đang nằm với một viên đạn trong ngực. Chúng mình phải thương Quảng nhiều, thương Quảng trước rồi mới thương nhau. Anh biết không, lúc này em muốn hát ghê...". Sâm đội mũ lên đầu, xách súng định bước ra.

- Sâm ơi!

Sâm dừng lại, khổ sở. "Để em ra chớ anh. Anh cứ gọi bằng cái giọng thương thương vậy đó, em đi sao được?".

Tụi nó tới rồi. Lộ thì đánh dưới hầm thôi.

Tiếng giày đạp cành khô đến gần. Chúng nó đi chậm, nói lao xao. Gậy và thuốn sắt chọc đất phầm phập. Chúng vừa dò chông vừa tìm hầm.

Bê quì một chân cạnh miệng hầm, áp tai vào vách, nghe. Sâm cũng quì và đơm súng, nhưng dửng dưng không thèm để ý đến bọn giặc, chỉ nhìn cái khối đen vững vàng của Bê. "Anh thương Quảng và liều chết cứu Quảng. Anh yêu em, muốn ra ngoài cản địch cho em. Sao anh tốt vậy, giỏi vậy? Em vừa giành của anh cái hạnh phúc được quên mình. Em sẽ đền...".

Bê quay lại thì thào:

- Em đừng giận...

Sâm mỉm cười, muốn thổn thức và rất bực mình. Thì ra từ nãy anh tưởng Sâm giận. "Anh biết tất cả, nhưng anh khờ lắm, không hiểu em gì hết". Sâm vẫn nín thinh để Bê áp tai nghe tiếp.

- Báo cáo trung sĩ, có dấu máu!

Bê ghé tai Sâm nói vội:

- Hễ tụi nó nạy nắp hầm, anh ném lựu đạn ra, nhô lên bắn ngay. Đánh phủ đầu nó mới khiếp. Sau đó tụi mình vô chỗ Quảng, đóng cửa chống thả mìn. Lính leo xuống, lại mở cửa bắn. Em nhớ chưa?

- Em nhớ.

Một tên kêu gần:

- Báo cáo trung sĩ, báo cáo...

Ai đó vừa quát vừa chồm tới, tiếng to lên rất nhanh:

ụ nội mày, báo cáo với báo chồn! Mày không dám đuổi hể! Mày la om lên cho Việt cộng nó nghe nó chạy hể?

Cái tát kêu "bốp" khá mạnh.

- Tiến mau, truy kích, bao vây Việt cộng! Đứa nào rù rờ, tao cho đạn dùi áo lập tức!

Một vật gì rơi sạt cạnh nắp hầm. Tiếng thuốn và gậy xoay sang phía khác.

Nhiều cánh quân địch kéo tới. Giày giẫm đất rậm rịch gần có xa có. Nghe tiếng chân, hai người biết chỉ có bọn dẫn đầu mỗi cánh sục tìm, cả đơn vị đi sau chỉ theo con đường đã mở, không tên nào dám bước chệch khỏi dấu mòn. Chúng sợ chông mìn. Gần nửa giờ chúng mới qua hết.

Bê nhấc nắp hầm.

Vầng sáng đục ùa qua cái miệng vuông, mang theo luồng không khí ngọt lịm và tiếng súng nổ xa. Bê né chỗ ngay cho Sâm nhô đầu lên mặt đất mà thở. Sâm không quen ở hầm, mệt hơn Bê, mặt đầm đìa mồ hôi. Bê còn ngại cái lúc nhìn Sâm giữa ánh sáng. Sau cơn liều lĩnh kéo dài chừng ba mươi giây ấy, Sâm cứ ngậm tăm. Bê đâm sợ Sâm gấp đôi. Bê luôn luôn thấy hai bàn tay đập sắt của mình đang đánh vỡ một cái gì đẹp, quí và mỏng mảnh quá.

Sâm thò tay nhặt cái vật rơi ban nãy nằm bên gốc chè, đưa xuống cho Bê. Nó là cái bật lửa của Quảng, có lẽ rơi ra khi Quảng ngồi cạnh hầm, đợi Bê đỡ xuống. Trung sĩ Huỳnh đã cố ý đá nó vào bụi cho mất dấu, thúc lính đi thẳng.

Bê nhìn nơi khác, nói rụt rè:

- Yên rồi. Anh vô xóm nắm tình hình, lấy cơm nước, kiếm sữa cho Quảng nữa.

- Để em đi.

May quá, hình như Sâm tha lỗi. Bê năn nỉ:

- Em đang mệt...

- Em đi hợp pháp dễ hơn. Gặp tụi nó, em nói tìm trâu lạc.

- Ngó coi, em bôi mặt đen thui, lại mặc áo quần đàn ông...

- Ve ve lột vỏ đây nè!

Sâm cởi cúc cái áo sơ mi xanh lấm lem. Bên trong, áo bà ba đen của Sâm vẫn sạch. Bê không can được nữa.

Sâm rút lược chải tóc thật kỹ. Cái gương con trong bao đạn rơi mất. Sâm ngần ngừ, rồi đưa khăn tay cho Bê, nói cái điều Bê đang ước:

- Anh lau mặt giùm em.

Hai người ngồi sát miệng hầm. Bê dốc ít nước sót trong bi đông vào khăn, lau mặt cho Sâm, dặn Sâm đến gặp chị đội trưởng du kích bí mật Đồng Mè. Phải đánh tiếp trong lòng địch và báo tin địch cho ủy ban. Chuyện công tác thật là dễ nói. Chưa bao giờ Bê giao công tác một cách thú vị như lần này. Mặt và cổ Sâm đen loang lổ dần dần trở lại trắng hồng dưới tay Bê, và Bê nghĩ rằng tình hình vẫn sáng sủa lắm, đời vẫn tươi>

Bê nhớ ra ban nãy Sâm có thể tạt vào nhà đồng bào giấu súng, rửa mặt, thay áo quần, rồi ung dung đi về Đồng Dừa hay ở lại tùy ý. Sâm đã cùng rút với Bê, bắn chặn địch để Bê và Quảng thoát. Bê đắn đo, thấy không nên nói những lời biết ơn với Sâm. Sâm có thể cho là "đồng chí bí thư động viên chị em, nâng đỡ phụ nữ". Chao ôi, hai nửa thế giới từng giờ từng phải sống bên nhau mà sao khó hiểu nhau đến thế!

Mặt Sâm đã sạch. Cả hai người bỗng hết việc, hết chuyện nói, ngẩn ra nhìn nhau. Không hiểu vì sao Sâm vụt đỏ hai má, ngoảnh đi:

- Em lên, trưa rồi.

Sâm đạp trên gối Bê, leo lên mặt đất, vạch bụi chè chui ra. Cởi bộ quần áo mặc ngoài và lột mũ đưa lại cho Bê, Sâm ấp úng nói, má còn đỏ:

- Lau cổ đi anh. Lọ nồi lu bù...

Quân địch kéo qua vườn hoang đã để lại những con đường mòn khá rộng và nhẵn, nhưng chúng thường gài mìn gíp 2 phòng ta đuổi, nên Sâm phải tránh đường. Sâm luồn qua các bụi rậm, túm đuôi tóc ra trước tránh gai níu. Khúc cổ ba ngấn thon thon hiện thành một mảng trắng nghiêng qua nghiêng lại trên nền lá sẫm, biến mất. Bê đứng ngây người trông theo. Bê chưa dám tin những gì vừa xảy ra là có thật. Chợt nhớ lời Sâm dặn, Bê đưa tay xoa cổ, rồi nhìn vết lọ nồi pha mồ hôi lạ dính trên tay mà mừng đến ngợp thở.

1

2

Đọc chệch tên hãng sản xuất Remington.

Mìn cỡ nhỏ, giống hộp thuốc đánh răng Gibbs.