Đồng Đạo

Chương 22

Người dịch: Nguyễn Bá Long

Nhà xuất bản: NXB Văn học

Shared by: CCG -

Họ bắt đầu bám theo Sandy McDermott khi anh rời khỏi New Orleans lúc tám giờ sáng và chạy theo xa lộ 10, một tuyến đường Liên bang. Anh bị bám sát cho đến khi mật độ giao thông đã giảm xuống nơi gần Hồ Pontchartrain. Họ gọi điện về phía trước và báo nhau biết Sandy đang trên đường đến Biloxi. Bám theo anh là chuyện dễ dàng, còn nghe trộm lại là chuyện khác. Guy đã có sẵn những con rệp cho văn phòng của Sandy, cho các máy điện thoại ở nhà, thậm chí là cho cả chiếc xe của anh nữa, nhưng quyết định cài đặt chúng thì lại chưa được đưa ra. Sự mạo hiểm là đáng kể. Aricia đặc biệt thận trọng. Ông ta đã lập luận với Stephano và Guy rằng Sandy hoàn toàn có thể đã tính tới việc này, và sẽ tống cho họ đủ những thông tin vô bổ, thậm chí còn có hại nữa. Thân chủ của Sandy đã tỏ ra rất sành sỏi với những trò này và đó là điều phải tính đến.

Sandy không mấy nhìn trước ngó sau. Đơn giản là khi đang lái xe trên đường và trong lúc tránh va chạm thì như thường lệ, đầu óc của anh còn đang ở mãi tận đẩu tận đâu.

Xét từ góc độ chiến lược, mọi chuyện đối với Lanigan đang đâu vào đấy. Các vụ kiện dân sự do Monarch-Sierra, hãng luật, và Aricia khởi kiện còn phải chờ hàng đống các vụ kiện tụng khác. Phải mất hàng tháng nữa Sandy mới đưa ra những phản ứng chính thức. Việc lấy cung trước tòa còn chưa thể nào bắt đầu trong vòng ba tháng tới và sẽ phải kéo dài cả năm. Chí ít thì cũng phải hai năm nữa mới có thể bắt đầu các phiên xét xử. Cũng tương tự như vậy đối với vụ kiện của Patrick chống lại FBI; một ngày nào đó nó sẽ được bổ sung để lôi vào đó cả Stephano và cái tổ hợp của lão ta. Đó sẽ là một vụ hay, nhưng Sandy sợ rằng mình sẽ không có được cơ hội để biện hộ cho Patrick trong vụ đó.

Vụ ly hôn đã được dàn xếp xong xuôi.

Cái vụ cố sát kia, trung tâm của mọi sự chú ý, lại là một vấn đề khác. Vụ này rõ ràng là nghiêm trọng nhất đối với Patrick và cũng sẽ diễn ra với tốc độ nhanh nhất. Theo luật, tòa án bang buộc phải xét xử Patrick trong vòng hai trăm bảy mươi ngày kể từ khi có cáo trạng của hội thẩm đoàn, và thời gian đã bắt đầu đang được đếm.

Trong suy nghĩ của Sandy, việc kết án dựa trên các chứng cứ sẽ là khó khăn. Trong lúc này, những yếu tố chứng cứ cơ bản đều thiếu - chẳng hạn như việc nhận dạng nạn nhân, việc người đó chết như thế nào, và tính chắc chắn của việc khẳng định rằng Patrick đã giết người đó. Đó là một vụ án với những chi tiết mỏng manh nhất. Và người ta sẽ dùng nhiều tới những giả định.

Tuy nhiên, một sự kết án dựa trên tình cảm của công chúng lại là điều có thể nhìn thấy trước. Cho tới lúc này, tại Biloxi, trong vòng bán kính một trăm dặm, ai ai cũng đã biết hầu hết các chi tiết, và không thể tìm thấy một người bình thường nào lại không nghĩ rằng Patrick đã giết chết ai đó để giả mạo cái chết của hắn nhằm dễ bề ẩn náu và đánh cắp chín mươi triệu đôla kia. Patrick cũng có vài người hâm mộ, những người cũng mơ tới một cuộc sống mới, với một cái tên mới, và cả đống tiền kia. Thế nhưng họ sẽ không có mặt trong hội thẩm đoàn của vụ án. Có vẻ như hầu hết mọi người, qua sự thăm dò dư luận không chính thức tại các quán cà phê và trong những câu chuyện gia đình, đều cảm thấy là hắn đã phạm tội và phải bị bỏ tù. Song rất ít ngưòi tán đồng án tử hình. Đó là án dành cho những kẻ cưỡng dâm và những kẻ giết cảnh sát.

Nhưng vào lúc này, việc cấp bách nhất là giữ mạng sống cho Patrick. Hồ sơ về Lance, do cô nàng Leah kiều diễm kia trao tận tay anh đêm qua tại một phòng khách sạn khác, đề cập tới một gã đàn ông đơn giản, nóng tính, và thích trò trả thù. Gã ưa súng đạn, và đã có lần bị một Hội thẩm đoàn Liên bang truy tố về tội buôn lậu súng thông qua một tiệm cầm đồ. Nhưng cáo trạng này về sau đã bị bác đi. Ngoài cái án tù ba năm về tội buôn lậu ma túy, hắn đã từng bị phạt giam sáu mươi ngày vì tham gia vào một trận ẩu đả trong một quán rượu ở Gulfport, mặc dù là được treo lại do nhà tù quá chật. Ngoài ra hắn cũng còn hai lần bị bắt giữ khác nữa.

Lance đã có thể là người mẫu. Dáng gã dong dỏng và đẹp trai, rất được các bà các cô ngưỡng mộ. Gã biết cách ăn mặc và nói những chuyện khôi hài bên ly rượu. Thế nhưng, sự lịch thiệp của hắn chỉ mang tính tạm thời. Đầu óc hắn luôn để nơi đầu đường xó chợ, nơi hắn giao du với bọn cho vay nặng lãi, bọn cá cược chuyên nghiệp, bọn tàng trữ của ăn cắp và bọn buôn lậu ma túy — những kẻ bảnh bao trong giới tội phạm ở địa phương. Đó là bạn bè của gã, cùng lớn lên trong một khu vực. Patrick cũng đã tìm ra được bọn này và hồ sơ về chúng bao gồm không dưới một chục trang tiểu sử, kèm theo hồ sơ hình sự.

Ban đầu, Sandy ngờ rằng Patrick mắc chứng hoang tưởng. Giờ đây thì anh đã tin. Mặc dù không mấy biết về thế giới ngầm nhưng công việc đôi khi cũng buộc Sandy phải tiếp xúc với đám tội phạm. Anh đã nhiều lần nghe rằng nếu bỏ ra năm nghìn đôla, người ta có thể giết bất kỳ ai. Thậm chí có lẽ là ít hơn thế ở dọc cái vùng bờ biển này.

Chắc chắn là Lance phải có hơn năm nghìn đôla. Và gã hoàn toàn có động cơ để thủ tiêu Patrick. Cái hợp đồng bảo hiểm đã làm cho Trudy trở nên giàu có kia không loại trừ một nguyên nhân chết đặc biệt nào, ngoại trừ tự sát. Một viên đạn vào đầu cũng được đối xử như một vụ đâm xe, một cơn đau tim, hay bất kỳ nguyên nhân nào khác. Chết là chết.

Vùng bờ biển này không phải là sân nhà của Sandy. Anh không biết cảnh sát trưởng và đám tay chân của ông ta, không biết các thẩm phán và những thói quen của họ, không biết các thành viên khác trong hội luật sư. Sandy ngờ rằng đó chính là lý do để Patrick chọn anh.

Sweeney đã không mấy dễ chịu trên điện thoại. Ông ta nói là rất bận và ngoài ra, việc gặp gỡ các luật sư, với ông ta, thường chỉ là lãng phí thời giờ. Ông ta có thể dành ra ít phút, bắt đầu lúc chín giờ ba mươi và không chấp nhận trường hợp khẩn cấp nào. Sandy đến sớm, và tự rót cho mình cà phê từ cái bình để bên vòi nước lạnh. Đám cảnh sát cũng đang túm năm tụm ba. Căn phòng tạm giam nằm ở phía trong cùng. Sweeney nhìn thấy Sandy bên lối vào trong phòng làm việc của ông ta, một căn phòng đơn sơ với mấy thứ đồ đạc rẻ tiền của chính phủ và vài ba tấm ảnh đã ngả màu của các nhà chính trị tươi cười treo trên tường.

“Ngồi đi,” Sweeney đáp, tay chỉ một cái ghế ọp ẹp.

“Tôi ghi lại được chứ ?” Sweeney hỏi, tay bấm nút một chiếc máy ghi âm to tướng đặt ở giữa bàn. “Tôi thường ghi lại mọi thứ,” ông ta nói.

“Được thôi,” Sandy nói như thể còn có một lựa chọn nào khác. “Cảm ơn về việc ông chịu tiếp tôi.”

“Không có gì,” Sweeney đáp. Ông ta vẫn không hề cười hay có bất cứ cử chỉ gì khác ngoài cái ấn tượng cho thấy mình đang bị quấy rầy. Ông ta đốt thuốc và làm một ngụm cà phê nóng bỏng từ một cái cốc giấy.

"Tôi sẽ vào thẳng vấn đề,” Sandy nói tỉnh khô. “Văn phòng của tôi nhận được tin báo rằng tính mạng của Patrick đang bị nguy hiểm.” Sandy không ưa gì chuyện nói dối, thế nhưng anh không có mấy lựa chọn trong hoàn cảnh này. Đây là điều mà thân chủ của anh muốn.

“Vì sao lại có ai đó báo cho văn phòng của ông biết là tính mạng của Patrick có thể bị nguy hiểm ?” Sweeney hỏi.

"Tôi có các thám tử làm việc về vụ này. Họ biết rất nhiều người. Có những lời xầm xì, và một trong số các thám tử của tôi lần theo. Chuyện thường diễn ra như vậy mà.”

Sweeney không tỏ ra tin cũng không tỏ ra không. Ông ta rít thuốc và nghĩ ngợi. Trong tuần lễ qua, ông ta đã nghe đủ những thứ tin đồn mà người ta có thể tưởng tượng được về cuộc phiêu lưu của Patrick Lanigan. Người ta không còn nói về một chuyện nào khác nữa. Tin về kẻ đâm thuê chém mướn này cũng nằm trong số đó mà thôi. Sweeney cho rằng mạng lưới của ông ta tốt hơn mạng luới của tay luật sư đang ngồi trước mặt, nhất lại là một luật sư tới từ New Orleans, bởi vậy ông ta sẽ cứ để cho anh ta nói. “Có đốỉ tượng tình nghi nào không?”

“Có. Tên hắn là Lance Maxa; tôi chắc là ông có biết hắn.”

“Chúng tôi biết.”

“Hắn đã thế vào chỗ của Patrick không bao lâu sau đám tang kia.”

“Sẽ có người nói rằng chính Patrick chiếm chỗ của tay kia đấy,” Sweeney nói, với nụ cười đầu tiên. Sandy thật sự đang ở một sân chơi lạ. Viên cảnh sát trưởng này biết nhiều hơn anh.

“Vậy thì tôi cho là ông biết tất cả về Lance và Trudy,” Sandy nói, hơi lo ngại.

“Đúng vậy. Chúng tôi nắm rõ tình hình ở đây.”

“Tôi chắc là thế. Dù sao chăng nữa, Lance, như ông biết, là một thứ rác rưởi, và người của tôi biết tin là gã đang tìm kiếm một kẻ giết thuê.”

“Gã trả giá bao nhiêu ?" Sweeney hỏi với vẻ hoài nghi.

“Không rõ. Nhưng gã có tiền, và có động cơ.”

"Tôi đã nghe chuyện này.”

"Tốt quá. Ông dự định làm gì ?”

“Về chuyện gì mới được chứ ?”

“Về việc giữ cho thân chủ tôi được an toàn.”

Sweeney hít sâu một hơi và quyết định kín tiếng. Ông ta cố kiềm chế tính nóng nảy của mình. “Hắn đang ở trong một căn cứ quân sự, trong một phòng bệnh viện, với các nhân viên của tôi gác ngoài cửa và các nhân viên FBI ở trong hành lang. Tôi không biết là ông còn muốn gì nữa.”

“Nào, thưa ông cảnh sát trưởng, tôi không định bảo ông phải làm công việc của mình thế nào đâu.”

"Thật thế ư ?”

“Thật vậy. Tôi xin cam đoan. Nhưng xin hãy cố hiểu rằng thân chủ của tôi lúc này là một con người đang rất sợ hãi. Tôi tới đây thay mặt cho anh ta. Patrick đã bị săn lùng trong hơn bốn năm trời. Nay đã bị bắt. Anh ta nghe thấy những tiếng nói mà chúng ta không nghe thấy. Anh ta nhìn thấy những bóng người mà chúng ta không nhìn thấy. Anh ta tin rằng người ta vẫn đang toan tính giết anh ta, và anh ta trông chờ sự bảo vệ của tôi”.

“Hắn đang an toàn.”

“Hiện nay thì là vậy. Nhưng nếu như ông nói chuyện với Lance, tra hỏi gã và nói với gã về những tin đồn này thì cũng có sao đâu. Nếu gã biết là ông đã để mắt đến thì có họa là tự sát mới toan tính một chuyện gì đó.”

“Lance là kẻ ngu ngốc.”

“Có thể, nhưng Trudy thì không. Nếu như ả nghĩ rằng mình có thể bị tóm, thì ả sẽ giật dây để Lance lùi về chỗ cũ.”

“Thì ả vẫn giật dây gã suốt.”

“Chính xác. Song ả sẽ không muốn mạo hiểm.”

Sweeney đốt một điếu thuốc nữa, và liếc mắt nhìn đồng hồ. “Còn gì nữa không ?” Ông ta hỏi, đột nhiên có vẻ sốt ruột muốn đi. Ông ta là một cảnh sát truởng chứ không phải người ngồi cạo giấy.

“Chỉ một điều thôi. Và một lần nữa, tôi không có ý xía vào công việc của ông. Patrick rất kính trọng ông. Thế nhưng, anh ta nghĩ là mình sẽ được an toàn hơn nhiều với nơi đang ở này.”

“Thật đáng ngạc nhiên.”

“Nhà giam có thể sẽ rất nguy hiểm cho anh ta.”

“Hắn nên nghĩ tới chuyện đó trước khi giết người.”

Sandy lờ đi, và nói, “Anh ta sẽ dễ dàng được bảo vệ hơn nếu ở tại bệnh viện."

“Ông đã tới nhà giam của tôi bao giờ chưa đây ?"

“Chưa.”

“Vậy thì đừng có dạy dỗ tôi về việc ở đó an toàn hay không nhé. Tôi đã làm công việc này lâu rồi, hiểu chứ hả ?"

"Tôi có dạy dỗ gì đâu.”

“Lại còn không cái chết tiệt. Ông có năm phút. Còn gì nữa không ?"

“Không”

“Tốt.” Sweeney đứng bật dậy và rời khỏi phòng.

oOo

Thẩm phán Karl Huskey đến căn cứ không quân Keesler vào lúc chiều muộn, từ tốn đi qua các trạm kiểm soát an ninh để tới bệnh viện. Ông đang ở giữa chừng một vụ xét xử về ma túy kéo dài một tuần, và đang mệt mỏi. Patrick đã gọi điện đề nghị ông ghé qua, nếu có thể được.

Bản thân cũng là một ngưòi hộ tang bên quan tài, ông đã ngồi cạnh Sandy McDermott trong tang lễ của Patrick. Tuy nhiên, khác với Sandy, Huskey là bạn gần đây của Patrick. Hai nguời đã gặp nhau trong một vụ kiện dân sự mà Patrick nhận không bao lâu sau khi hắn chuyển đến Biloxi. Họ đã trở thành chỗ thân tình, theo lối các luật sư và các thẩm phán thường có khi mà tuần nào cũng gặp nhau. Họ đã chuyện trò trong những bữa ăn đơn giản tại các bữa trưa hàng tháng của hội luật gia và có lần đã cùng quá chén trong một bữa tiệc Giáng sinh. Họ chơi gôn với nhau hai lần một năm.

Đó là một mối quan hệ quen biết thân tình, nhưng không phải là một mối quan hệ bạn bè gần gũi, ít ra là trong ba năm đầu của Patrick ở Biloxi. Nhưng họ đã trở nên gần gũi hơn trong những tháng trước khi hắn biến mất. Tuy vậy, khi việc đã xảy ra rồi thì cũng dễ nhìn lại để thấy một thay đổi ở Patrick.

Trong những tháng sau khi Patrick biến mất, những người trong giới tòa án biết hắn nhiều nhất, trong đó có Karl, thường tụ tập ngồi uống trong cái bar ở tầng duới của tiệm Mary Mahoney vào các chiều thứ sáu và trao đổi về vụ của hắn.

Trudy có phần đáng trách, dù rằng, theo ý Karl, thì chị ta không đáng là một mục tiêu, về bề ngoài, cuộc hôn nhân này không tỏ ra tồi tệ đến thế. Hiển nhiên là Patrick không hề nói chuyện đó với ai, ít nhất là trong số những người ngồi uống ở tiệm Mary Mahoney. Những hành động của Trudy sau đám tang, đặc biệt là chuyện chiếc Rolls màu đỏ, chuyện đưa trai về nhà và thái độ vênh váo của ả ta ngay sau khi có được khoản tiền bảo hiểm, đã làm cho mọi người khó chịu và không thể nào còn khách quan được nữa. Không ai dám chắc rằng ả đã ngủ lang trước khi Patrick biến đi. Trên thực tế, Buster Gillespie, thư ký tòa, và là nguời thường xuyên có mặt trong các cuộc trao đổi này, còn tỏ ra mến mộ Trudy. Ả đã có lần cùng với vợ Gillespie hoạt động trong một buổi quyên góp từ thiện gì đó, và anh ta luôn luôn cảm thấy muốn nói một điều tốt đẹp gì đó về ả. Nhưng có lẽ anh ta là người duy nhất muốn làm việc đó.

Sức ép công việc chắc chắn là một nhân tố trong việc đẩy Patrick tới bên bờ vực. Hãng luật của hắn ngày đó tiếng tăm như cồn, và hắn rất muốn trở thành một cổ đông. Hắn làm việc nhiều giờ, và nhận những vụ khó khăn mà các cộng sự của hắn muốn từ chối. Ngay cả việc Ashley Nicole chào đời cũng không giữ được hắn ở nhà. Ba năm sau khi vào hãng với tư cách một cộng sự, hắn đã trở thành một cổ đông, thế nhưng ít người bên ngoài biết được điều đó. Hắn đã khoe với Karl sau một phiên tòa, thế nhưng đâu phải là Patrick không biết nói khoác một chút.

Trông hắn mệt mỏi và trầm uất, nhưng mà hầu hết các luật sư đã bước vào phòng xử án của Karl thì cũng đều như vậy. Song thay đổi kỳ cục nhất ở Patrick là về mặt hình thể. Hắn cao hơn một mét tám, và hắn nói hắn chưa bao giờ gầy cả. Hắn nói hắn là một tay ưa chạy hồi ở trường luật, và có thời đã chạy tới bốn mươi dặm một tuần. Thế nhưng, với một luật sư bận rộn thì ai mà có thời giờ ? Cân nặng của hắn nhích lên, và rồi tăng vọt trong năm cuối cùng ở Biloxi. Hắn làm như không nghe thấy những lời đùa cợt và những nhận xét trong cái đám đông ở tòa án. Karl đã hơn một lần la hắn về chuyện đó, nhưng hắn vẫn cứ ăn. Một tháng trước khi biến mất, hắn nói với Karl trong một bữa trưa rằng hắn cân nặng hơn một tạ và Trudy đang làm ầm ĩ cả lên. Ả ta, trái lại, tập thể dục nhịp điệu hai giờ một ngày theo Jane Fonda và thanh tú như một người mẫu.

Hắn nói là huyết áp của hắn đang lên, và hắn hứa là sẽ thực hiện một chế độ ăn kiêng. Karl đã khuyến khích việc này. Về sau thì ông biết rằng huyết áp của Patrick hoàn toàn bình thường. Giờ đây, khi họ nghĩ lại thì cái việc lên cân kia, rồi lại giảm cân rất nhanh, hoàn toàn có ý nghĩa.

Cả bộ râu nữa. Hắn bắt đầu để râu vào khoảng tháng Mười một năm 1990, nói rằng cho hợp với những cuộc đi săn hươu. Việc để râu đó không có gì là khác thường ở những người nho nhã và giới luật sư vùng Mississippi. Khí hậu mát mẻ. Kích thích tố sinh dục nam tăng. Đó là một chuyện bình thường ở đàn ông. Hắn không cạo râu và Trudy cũng không hài lòng về điều đó. Hắn càng để dài, bộ râu càng lốm đốm bạc nhiều hơn. Bạn bè của hắn rồi cũng quen đi. Nhưng Trudy thì không. Hắn cũng để tóc dài hơn một chút, phía trên và hai bên tai rậm hơn. Karl gọi đó là kiểu Jimmy Carter hồi năm 1976. Patrick thì nói hắn không còn người chuyên chăm lo mớ tóc cho hắn và không thể nào tìm được một người khác mà hắn tin cậy.

Hắn ăn mặc đẹp và hoàn toàn chấp nhận cái trọng lượng của hắn, thế nhưng hắn còn quá trẻ để buông xuôi như vậy.

Ba tháng trước khi rời khỏi Biloxi, Patrick đã thành công trong việc thuyết phục các cổ đông trong Hãng của hắn rằng Hãng cần một cuốn quảng cáo của chính mình. Đó là một đề án nhỏ, thế nhưng hắn lại rất sốt sắng. Mặc dù Patrick không phải là người có trách nhiệm phải biết nhưng Hãng đã đang tiến tới rất gần việc dàn xếp xong vụ Aricia, và gần như đã có thể nhìn thấy tiền. Người ta đang hào hứng. Một Hãng làm ăn rất nghiêm túc sắp trở thành một Hãng rất giàu có, vậy thì tại sao lại không gây ấn tượng với một cuốn quảng cáo cho ra trò. Cũng là một cách để khôi hài với Patrick. Lần lượt năm cổ đông ngồi xuống trước một tay thợ ảnh chuyên nghiệp, rồi mới dành một giờ cho việc chụp chung. Patrick cho in năm nghìn cuốn và được các cổ đông kia đánh giá cao. Trong cuốn quảng cáo đó, hắn ở trang hai, to béo, để râu, tóc rậm, và trông không hề giống chút nào với anh chàng Patrick mà người ta tìm thấy ở Braxin.

Tấm ảnh này đã được báo chí sử dụng khi đưa tin về cái chết của hắn. Đó là tấm ảnh được chụp mới nhất, và cũng tình cờ, Patrick đã gửi một cuốn quảng cáo này tới cho tờ báo địa phương, ngừa trường hợp Hãng quyết định tiến hành một đợt quảng cáo. Họ đã cười phá lên về chuyện này trong khi ngồi uống với nhau ở Mary Mahoney. Họ vẫn nhớ cảnh Patrick sắp xếp phiên chụp ảnh trong phòng họp của Hãng hôm đó. Họ còn có thể thấy Bogan, Vitrano, Rapley và Havarac, trong những bộ complê màu nước biển sẫm với những nụ cười nghiêm nghị, và ngay chính khi đó thì Patrick đang chuẩn bị cho cuộc đào thoát của hắn.

Trong những tháng sau khi hắn biến đi, nhóm ngồi uống ở Mary Mahoney đã nhiều lần nâng cốc vì Patrick và chơi cái trò đoán xem “Hắn có thể đang ở đâu ?" Họ chúc hắn khỏe và nghĩ về chỗ tiền của hắn. Thời gian trôi đi và cơn choáng về sự biến mất của hắn cũng nhạt dần. Đã có dạo họ nói tới từng chi tiết trong cuộc sống của hắn, nhưng những buổi trò chuyện như thế thưa dần và sau cùng thì chấm dứt. Năm tháng trôi qua. Sẽ không bao giờ tìm được Patrick cả.

Karl vẫn thấy khó lòng mà tin được. Ông bước vào thang máy và một mình đi lên tầng ba.

Ông thầm nghĩ không biết đã bao giờ, từ trước tới nay, mình dứt hẳn được chuyện về Patrick chưa. Quá nhiều những điều bí ẩn. Một ngày buồn bực nào đó tại tòa, thế là ông lại hình dung tới Patrick, trên một bãi biển đầy nắng, đọc một cuốn tiểu thuyết, uống một chút gì đó và ngắm nghía các cô gái. Một năm nữa không được tăng lương, và ông lại nghĩ tới chuyện có thể tiêu chín mươi triệu đôla kia vào những việc gì. Khi có những tin đồn mới nhất về sự suy sụp của Hãng Bogan, ông lại trách cứ Patrick về nỗi khốn khổ mà hắn đã gây ra. Đúng vậy, sự thật là Karl đã nghĩ tới Patrick vì lý do này hay lý do khác ít nhất là mỗi ngày một lần, không ngày nào không, suốt từ ngày hắn ra đi.

Không có cô y tá hay bệnh nhân nào khác trong hành lang. Hai viên cảnh sát đứng dậy. Một người nói, “Xin chào ông Thẩm phán.” Ông chào lại họ và bước vào căn phòng tối kia.