Con Cò Trắng

Con Cò Trắng

Docsach24.com
ời người dịch:

Con cò trắng (The White Heron), tác giả Sarah Orne Jewett, lần đầu tiên được xuất bản năm 1886, trong tập “Con cò trắng và những truyện khác”, sau đó được in lại trong tập “Truyện Thần tiên vùng New England” (1890). 

Đã hơn 120 năm từ ngày tác phẩm chào đời, đến nay những giá trị về tình yêu với thiên nhiên và môi trường, về cách ứng xử đúng đắn cho những gì mà chúng ta hằng rao giảng là quý giá,…vẫn còn nguyên giá trị.

Quyết định của đứa bé gái chin tuổi đã, bằng bản năng của con người chọn sống giữa rừng với bà ngoại vì ghê sợ đám đông và kinh hãi chốn thị-thành-công-xưởng chật chội, sẵn sàng hy sinh một giá trị vật chất là cả một kho tàng đối với nó, hy sinh cả một tình yêu nhẹ nhàng mới chớm, để bảo vệ một cánh cò hoang dã… sau hơn một trăm năm vẫn đủ mạnh để khiến chúng ta suy gẫm!

*  *  *  *  *

I.

Một buổi chiều muộn tháng sáu, lúc chưa tới tám giờ, cả khu rừng như tràn ngập những bóng đen dù đâu đó vẫn còn những tia nắng mặt trời yếu ớt lách qua những tàng cây. Một bé gái đang trên đường về nhà với con bò cái, thứ sinh vật có kiểu hành xử chậm lụt, chây lười đến phiền toái nhưng lại chính là bạn đồng hành quý giá. Cả hai bước đi, càng lúc càng xa khỏi vùng có ánh sáng, và càng dấn sâu vào trong rừng hơn, nhưng bước chân chúng đã quá quen với đường đi, nên dù mắt có không nhìn thấy cũng chẳng hề chi.

Lúc cô bé tìm thấy con bò đang đứng đợi mình bên cánh đồng cỏ thì buổi đêm hè đang dần vây bủa; đã vậy mà con bò lại có thú chơi trốn tìm, cứ rúc vào nấp trong mấy bụi cây việt quất, và mặc dù đã được cho đeo một chiếc lục lạc, nó cũng lại đã sớm phát hiện ra rằng, nếu cứ đứng im thì chiếc lục lạc sẽ không hề leng keng. Thế là cô bé Sylvia cứ phải săn tìm, hoài hơi gọi “Ùm bò! Ùm bò!” mà vẫn không nhận được tiếng ‘ừm” đáp trả, tới nỗi niềm nhẫn nại con trẻ đã gần như cạn kiệt. Nếu như con bò này không tốt sữa và là nguồn thu hoạch quý giá, thì đối với chủ nhân của nó mọi thứ xem chừng sẽ khác hẳn. Ngoài ra, bao giờ Sylvia cũng có vô khối thời gian mà lại có rất ít việc để dùng nó. Đôi khi, vào những hôm đẹp trời, việc chơi trốn tìm với con bò tinh quái cũng là niềm an ủi, và vì đứa bé gái chẳng có bạn bè chi nên nó tự cho phép mình giải trí với trò chơi này bằng niềm vui thú vô bờ. Dầu vậy lần này cuộc đuổi bắt đã kéo dài quá lâu đến nỗi chính con vật cũng cảm thấy lo lắng để phải phát ra những tín hiệu báo cho cô chủ biết chỗ nó đang trốn, khiến Sylvia phải  phá lên cười khi cô bé tới được chỗ con Mooly ở cạnh bờ đầm. Nó âu yếm giục bò ta về nhà bằng một bó nhành cây. Con bò cái già không muốn đi xa thêm, nên bất thần rẽ phải khi chúng rời bãi cỏ, và rảo bước dọc theo con đường mòn. Giờ đây con bò gần như đã sẵn sàng cho sữa, và nó sẽ rất ít khi chịu dừng chân để ăn. Sylvia tự hỏi, không biết bà ngoại sẽ nói gì, vì bọn chúng về quá muộn như thế này. Lúc nó rời nhà vào hoảng năm giờ rưỡi thì trời còn đẹp, nhưng ai cũng biết nỗi khó khăn của việc thực hiện loại công việc này trong một thời gian ngắn. Bà Tilley cũng đã phải tự chăn bò trong rất nhiều những buổi chiều muộn đương hè như thế này nên cũng khó chê trách được bất kỳ ai về việc trễ nãi; và bà cũng đã chỉ biết thầm cám ơn khi đang ngồi ngóng đợi vì, ngày nay, bà đã có sự trợ giúp quý báu của Sylvia. Người đàn bà tử tế đồ rằng Sylvia đang tự ý muốn thơ thẩn đâu đó; trước nay chưa hề có một đứa nhỏ như thế lại lang thang ngoài trời bao giờ! Mọi người nói rằng đây là cơ hội tốt đối với một bé gái đã trải qua tám năm trời lớn khổ lớn sở nơi thứ thành-phố-công-xưởng chật chội; còn đối với bản thân Sylvia, dường như nó chưa từng được biết sống là như thế nào cho tới khi bước chân vào trang trại này. Cô bé thường hay nghĩ về cây phong lữ quặt quẹo đến tội nghiệp của nhà hàng xóm trong thành phố với niềm thương cảm xót xa.

“Sợ đám đông,” bà Tilley tự nhủ, với một nụ cười, khi bà đã bất đồ chọn Sylvia giữa đám trẻ con ngồi đầy nhà của con gái bà, và đưa nó về nông trang. “Họ nói ‘sợ đám đông’ ư! Ta đoán là con bé sẽ không gây vấn đề gì to tát cho chúng nó khi rời khỏi chỗ đó!”. Đến lúc hai bà cháu dừng lại trước cửa căn nhà lẻ loi trong rừng và mở khóa, rồi một con mèo chạy tới meo meo ầm ĩ, và cọ người vào họ-đích thực là một bé miêu bị bỏ quên, nhưng vẫn béo ú nhờ những chú chim cổ đỏ- thì Sylvia đã thì thầm rằng đây đúng là một nơi chốn vô cùng xinh đẹp để sống, và cô bé không còn bao giờ muốn trở về ngôi nhà trong phố kia nữa.

Hai kẻ đồng hành cùng bước trên con đường mòn lấy củi đã mờ tối, con bò cái lê những bước chân chậm chạp, còn đứa trẻ gái thì sải vội bước mau. Con bò dừng chân khá lâu bên suối để uống nước, cứ như là bãi cỏ khi nãy đã không hề có hết phân nửa là đầm lầy, và Sylvia đứng đợi, dầm đôi chân trần trong cát ướt; trong khi những con bướm đêm bay qua chạm nhẹ vào người. Nó bước tràn qua dòng suối khi con bò rẽ đi nơi khác, tai lắng nghe tiếng con chim hét mà trái tim nhỏ bé rộn nhịp đầy thích thú. Trong những tàng cây lớn cao trên đầu nó là cả một niềm mê thích. Trên đó có đủ các loại chim và thú dường như vừa thức giấc để chuẩn bị đi vào thế giới của chúng, hoặc để chào nhau bằng tiếng chíu chít ngái ngủ. Ngay chính Sylvia cũng thấy buồn ngủ vì đã cuốc bộ khá xa rồi. Tuy vậy, đường về nhà cũng không còn xa mấy, còn không khí thì lại mát dịu và ngọt ngào. Nó không thường lưu lại trong rừng muộn như thế này, và giờ đây nó cảm thấy như mình là một phần của những bóng tối màu xám và của muôn ngàn cây lá đang xao động xung quanh. Nó chợt nghĩ tưởng như bao năm tháng đã qua kể từ khi nó lần đầu bước chân tới nông trang hồi một năm trước; rồi nó tự hỏi không biết mọi thứ nơi thành phố ồn ào đó có vẫn như xưa-khi nó còn ở đó-hay không; rồi bỗng dưng ý nghĩ về thằng mặt đỏ to đầu vẫn thường rươt đuổi và làm nó sợ chết khiếp khiến nó vội vã bươn chạy thật nhanh để kịp thoát khỏi muôn ngàn bóng cây bao quanh.

Thình lình đứa gái nhỏ của rừng xanh giật bắn người khi nghe một tiếng huýt sáo- rõ ràng rất gần đây. Không phải là tiếng chim, vốn dĩ rất thân quen, mà là tiếng huýt gió của bọn con trai, nghe rất quả quyết, và có phần hung hãn. Bỏ lại con bò cho một số phận có thể là thê lương đang chờ đón, Sylvia nhón chân nấp vào bụi rậm, nhưng đã quá muộn. Kẻ thù đã phát hiện thấy nó, và hồ hởi cất giọng thuyết phục, “Ô là, chào cô em bé bỏng, còn bao xa nữa thì ra tới đường cái hả em?”, và Sylvia run rẩy trả lời rất khẽ hầu như không thể nghe thấy, “Cũng gần thôi”.

Nó không dám ngước nhìn người thanh niên cao lớn với cây súng trên vai, nhưng cũng rời khỏi bụi rậm để rồi lại lẽo đẽo đi theo con bò cái, trong khi chàng thanh niên nọ sánh bước cạnh bên.

“Anh đang săn chim,” người thanh niên lạ mặt vui vẻ bắt chuyện, “mà lại đi lạc nên rất cần có bạn. Đừng sợ gì nhé,” anh chàng tế nhị nói thêm, “cứ nói to lên, cho anh biết em tên gì nào, và dù cô bé có nghĩ gì đi nữa thì nhất định anh cũng sẽ ở lại nhà cô đêm nay, để sáng sớm mai dậy đi săn đó nghe.”

Sylvia càng thêm cảnh giác. Liệu bà ngoại có sẽ không cho là nó quá đáng trách hay không đây? Nhưng nào ai có thể tiên đoán được một biến cố như thế này kia chứ? Đây có vẻ không phải là lỗi của nó, và rồi nó ngúc ngoắc cái đầu như nhành hoa gãy cuống, nhưng vẫn cố hết sức để đáp, “Sylvy”, khi người bạn đồng hành lại hỏi tên nó lần nữa.

Lúc bộ ba về gần tới nhà thì đã thấy Bà Tilley đứng chờ ở cổng. Nàng bò cái cất tiếng ụm bò rõ to như để phân bua.

“Thôi được rồi, tốt hơn là mi nên tự nói ra cái trò cũ rích của mi đi! Nó có thể chui rúc vào xó xỉnh nào được vào giờ này, hả Sylvy?”. Nhưng Sylvia vẫn im lặng một cách kỳ lạ, bản năng mách bảo nó rằng bà ngoại đã không hiểu hết tính nghiêm trọng của tình thế. Hẳn là bà đang tưởng người lạ này là một cậu nông dân nào đó trong vùng.

Chàng thanh niên dựng cây súng ngay cạnh cửa, rồi thả chiếc túi nặng chịch xuống bên, anh quay sang chào bà Tilley, và kể lại chuyện mình lạc đường, và hỏi xin bà được nghỉ đêm.

“Bà cho cháu nằm đâu cũng được,” anh chàng nói, “cháu cần phải dậy sớm, trước khi ngày rạng; nhưng thực tình thì cháu đói lắm rồi. Bà cho cháu xin ít sữa nhé, cháu nói thật đấy”.

“Ồ vâng, được thôi, được thôi”, vị chủ nhà với lòng hiếu khách dễ dàng được đánh thức sau thời gian dài ngủ quên mau mắn đáp. “Nếu muốn cháu có thể đi theo con đường chính này thêm khoảng một dặm nữa hay hơn để được trả tiền và được phục vụ tốt hơn; nhưng có thể cháu cũng có thể hài lòng với những gì ta có ở đây. Ta sẽ đưa sữa tới ngay, và cháu cứ tự nhiên như ở nhà nhé. Cháu có thể ngủ trên nệm vỏ đậu hay nệm lông ngỗng cũng được,” bà hào phóng đề nghị. “Tất cả đều một tay bà làm cả đấy. Dưới kia có con đường săn ngỗng rất hay, chỗ đi về phía đầm lầy đấy. Thôi bây giờ cháu hãy đi dọn bữa cho quý ngài đây đi, Sylvy!”. Và thế là Sylvia tức tốc phóng đi ngay. Nó rất vui sướng được làm gì đó, vả lại chính nó cũng đang thấy đói.

Thật quá đỗi ngạc nhiên khi được khám phá căn nhà nhỏ xinh nhưng cực kỳ tiện nghi và sạch sẽ ở giữa chốn hoang dã vùng New England như thế này. Chàng trai trẻ đã được biết đến những nỗi kinh hoàng về những sở hữu nhà cửa đầu tiên của vùng đất này, và về sự nhếch nhác đáng tởm của tầng lớp xã hội đó, lớp người giờ đây đang sống thanh bình với bầy gà trong sân. Đây là thứ nông trang kiểu cổ chỉn chu nhất, mặc dù kích thước nhỏ bé khiến nó trông như một tu viện. Chàng trai thích thú lắng nghe cuộc trò chuyện duyên dáng của bà cụ, ngắm nhìn gương mặt nhợt nhạt của Sylvia với đôi mắt xám ngời sáng mà không khỏi cảm thấy mỗi lúc một phấn khích hơn, để rồi cậu phải xác quyết là đó là bữa tối ngon nhất trên đời trong vòng một tháng nay. Và sau đó, những người bạn mới quen cùng ra ngồi nơi ngạch cửa ngắm trăng lên.

Săp tới mùa dâu rồi, và Sylvia sẽ phụ giúp đắc lực trong việc hái lượm ấy. Con bò là nhà cung cấp sữa tuyệt vời, mặc dù vẫn còn đang có dịch bệnh gì đó, nữ gia chủ thật thà buôn chuyện, kể thêm rằng bà đã phải chôn mất bốn đứa con, thế nên mẹ của Sylvia, và một người con trai nữa (mà chắc cũng đã chết rồi) ở California là toàn bộ con cái mà bà còn có được. “Thằng Dan, con trai tôi, là tay súng săn cực giỏi,” bà buồn rầu giải thích. “Tôi chả bao giờ muốn nghĩ tới gà gô hay sóc xám mỗi khi nó về nhà. Nó giỏi đi săn lắm, tôi nghĩ thế, nên nó chẳng có tay đâu mà viết thư cho tôi. Đó thấy chưa, tôi đâu có trách móc gì nó, tôi chỉ tự nhìn thấy mọi việc như nó là để có thể hiểu được”.

“Sylvy lo cho cậu ấy nghe con,” người bà nồng hậu tiếp tục, sau một phút lặng im. “Quanh đây chả có lấy một dấu chân người, mà con bé này cũng chả biết đường đâu mà mò, nên mấy cái con thú rừng cũng coi nó như người của tụi nó. Nó có thể lại gần và cho sóc ăn ngay trên tay, lại còn đủ thứ chim chóc nữa chứ. Hồi mùa đông năm ngoái nó đã đưa về đây cơ man là chim giẻ cùi, mà tôi tin là nó đã nhín bớt phần để dành cho chim nữa, nếu như tôi không để mắt dòm chừng. Gì cũng được, nhưng dòng giống nhà quạ với chim giẻ thì không, tôi nói nó như vậy. Tôi thì tôi sẵn sàng giúp – mặc dù thằng Dan cũng không ưa gì chúng mà chắc là cũng với cùng lý do như với người ta. Sau khi nó ra đi, ở đây người ta đồn thổi đủ điều về nó. Dan với lại ông già nó hai cha con đâu có ưa gì nhau – nhưng ổng chả còn ngẩng cao đầu được nữa sau khi thằng con dám bỏ ổng mà đi”.

Vị khách chẳng mảy may chú ý đến khúc mắc này trong nỗi buồn gia đình vì đang bận chú tâm vào chuyện khác.

“Vậy là Sylvia biết hết các loài chim ở đây phải không?”, anh ta hỏi, mắt nhìn quanh tìm cô bé đang ngồi lặng lẽ khép nép dưới ánh trăng với cơn buồn ngủ đang tăng dần. “Cháu đang tự tay làm một bộ sưu tập về chim. Cháu đã làm từ hồi còn nhỏ lận.” (Bà Tilley mỉm cười) “Trong năm năm vừa qua cháu đã săn được hai hay ba con thuộc loại quý hiếm. Ý cháu là cháu đã có được chúng ngay trên đất của mình khi bắt gặp chúng.”

“Cậu nuôi chúng trong lồng à?” bà Tilley ngờ vực hỏi lại, như để đáp lại lời tuyên bố đầy phấn khích này.

“Ô không phải đâu ạ, cháu nhồi lông cho chúng rồi để dành, có đến hàng tá hàng tá chim đấy ạ!”, nhà điểu học nói, “cháu tự mình bắn hay là đặt bẫy, từng con một. Hôm thứ bảy cháu đã thoáng trông thấy một con cò trắng cách đây vài dặm, rồi đã lần dấu nó theo hướng này. Vùng này chưa hề có thứ cò đó, hôm đó cháu thấy là một con cò trắng con,” rồi anh chàng xoay qua nhìn Sylvia với hy vọng được khám phá ra loài chim quý trong đám bạn của cô bé.

Nhưng Sylvia đang mải dõi theo một con ếch đang nhảy lóc chóc trên con đường mòn hẹp lối.

“Nếu được trông thấy thì sẽ biết ngay đấy là cò,” khách lạ hăng hái tiếp tục. “Một thứ chim trắng cao lạ lùng với bộ lông trắng muốt và đôi chân mảnh dài. Và nếu nó có tổ thì tổ chắc phải ở trên ngọn một cây cao, cái tổ làm bằng lông vũ, như kiểu tổ chim ưng vậy.”

Tim Sylvia đập loạn xạ; nó biết con cò trắng lạ ấy; và đã có lần nó đã lẻn được tới gần chỗ chim đứng, trong đám cỏ biếc mọc ven bờ đầm, cái đầm này ở mãi tận phía bên kia khu rừng. Ở đó là một vùng trời rộng mở khiến ánh mặt trời trở nên vàng lạ vàng lùng và rất nóng; ở đó có nhiều bụi rậm cao ngất ngưởng, đứng gục gặc trong gió; vùng đầm lầy mà bà ngoại đã từng dặn nó là coi chừng té chìm trong lớp bùn đen mềm bên dưới thì sẽ chẳng còn ai nghe gì về nó nữa. Cạnh bên, không xa đó lắm, là những bụi cây nước mặn, ở ngay bên bờ biển, nơi mà Sylvia đã nhiều lần tự hỏi và mơ về, nhưng chưa từng được trông thấy, là nơi đôi lần nó nghe vọng về những thanh âm tuyệt vời nổi lên trên tiếng ầm ào của rừng cây trong các đêm dông bão.

“Cháu không còn nghĩ tới chuyện gì khác được nữa, cháu thích được tìm thấy tổ của con cò đó quá đi,” vị khách lạ điển trai tiếp tục nói. “Cháu sẽ thưởng mười đô la cho bất kỳ ai chỉ cho cháu cái tổ đó,” anh chàng khao khát nói thêm, “và cháu định sẽ dành trọn kỳ nghỉ để săn nó nếu cần. Có khi nó chỉ là chim di trú, hoặc nó đã bị vài giống chim săn mồi truy đuổi đến nỗi lạc mất đàn.”

Bà Tilley thích thú theo dõi toàn bộ những điều này, nhưng Sylvia vẫn chỉ dõi theo con ếch mà không thổ lộ gì, như nó vẫn thường làm như thế vào đôi lúc tĩnh lặng hơn, đến nỗi sinh vật ấy rất muốn nhảy ngay vào trong cái hang của nó ở ngay dưới bục cửa, để tránh né sự tò mò kỳ quặc vào giờ khắc chiều tà hôm ấy. Đêm ấy đã có cơ man là nghĩ ngợi để lượng xem cái kho báu mười đô la đáng ao ước ấy, nói nhỏ thôi nhé, có thể mua được những gì.

Ngày hôm sau tay thể thao trẻ thơ thẩn khắp nơi trong rừng, và Sylvia cứ đi cùng anh chàng, nỗi sợ hãi ban đầu đã dần tan biến, vì anh chàng đã thể hiện là người tử tế và đáng yêu nhất đời. Anh ta nói với nó rất nhiều về chim chóc, về những gì chúng biết, về nơi chúng sinh sống và về những gì chúng làm cho bản thân chúng. Rồi anh ta cho nó một con dao găm, mà nó thấy quý như một báu vật, như thể nó là người lạc trên hoang đảo. Suốt ngày hôm ấy anh chàng thậm chí không hề khiến nó thấy phiền lòng hay hãi sợ, ngọai trừ đôi lúc anh ta lôi từ trên cây xuống một con chim đang hót. Chắc hẳn Sylvia sẽ thấy thích anh chàng hơn nếu như anh ta không đem theo súng; nó không thể hiểu nổi tại sao anh lại có thể xuống tay giết chết những con chim mà chính anh đang rất mực mê thích. Nhưng đến khi ngày đã gần phai, thì Sylvia vẫn ngắm nhìn chàng trai với niềm ngưỡng mộ trìu mến. Con bé chưa từng thấy ai dễ thương và đáng yêu như thế; trái tim phụ nữ đang ngủ yên trong đứa trẻ gái, nay bỗng mơ hồ rộn rã giấc mộng yêu thương. Đôi chút dự cảm về quyền năng to lớn ấy của tình yêu làm đôi trẻ xao xuyến, họ nhẹ bước trong thinh lặng băng ngang khu rừng u tịch. Có lúc dừng bước dõi nghe một khúc nhạc véo von trên cành cao, họ đứng nép vào nhau nồng nàn, hòa quyện cùng muôn ngàn cây lá--- rất ít lời trao đổi, hoặc chỉ như thì thầm; rồi chàng trai trẻ đi trước, Sylvia đắm đuối bước theo sau, đôi mắt xám nay thẫm đen niềm phấn khích.

Nó buồn vì cuộc truy tìm con cò trắng không đạt được gì, nhưng nó không dẫn đường cho khách, nó chỉ đi theo sau, vả lại lúc đầu cũng đâu có ai nói gì về việc này. Hẳn là thanh âm của giọng nói rõ ràng là của chính nó đã làm nó hãi sợ - điều cật vấn ấy đủ khó để trả lời có hay không ngay khi ta đang cần có câu trả lời. Sau cùng, khi màn chiều bắt đầu buông, và họ phải đưa bò về nhà, lúc đến chỗ mà mới tối hôm trước khi nghe tiếng huýt sáo nó đã sợ cuống sợ cuồng thì Sylva mỉm cười thú vị. 

II.

Cách nhà nửa dặm, ở mãi tận bìa rừng bên kia, chỗ đất cao nhất khu rừng, có một cây thông cổ thụ đứng sừng sững, là cây sót lại cuối cùng của thế hệ những cây cùng thời với nó. Không ai có thể nói được là, nó được để lại để đánh dấu ranh giới, hay chẳng để vì lý do gì; những người cưa cây rừng đã đốn hạ các bạn đồng liêu của nó nay đã chết hoặc đi xa; và cả một khu rừng với đủ thứ cây cao sừng sững, những thông, sồi, và cây gỗ thích, đã mọc trở lại. Thế nhưng ngọn thông già này vẫn tỏa bóng xuống tất cả bọn chúng, làm nên một cái mốc bờ giữa biển cả và nhiều dặm bãi bờ xa xa. Sylvia biết rõ cây thông già này. Nó luôn tin rằng hễ ai leo lên được tới ngọn cây thì sẽ được dõi mắt nhìn ra biển khơi; và đứa bé gái thường đặt tay lên lớp vỏ cây sần sùi, khao khát ngước nhìn lên những nhành cây thẫm màu luôn xao động trong gió, bất luận hôm ấy tiết trời oi bức và không khí đậm đặc như thế nào. Giờ đây Sylvia đang nghĩ về cây ấy với niềm phấn khích mới, rằng, tại sao không chứ, nếu như người ta leo lên đó vào lúc rạng ngày, thì có thể trông thấy được cả thế giới, và sẽ dễ dàng khám phá ra chỗ mà từ đó con cò trắng cất cánh bay lên để mà  đánh dấu nơi ấy và sau đó sẽ tìm ra chiếc tổ bí ẩn?

Thật đúng là tinh thần phiêu lưu mạo hiểm, một niềm đam mê hoang dã! Chiến thắng ấy mới tuyệt vời và ngây ngất và vẻ vang làm sao khi sáng ngày mai nó có thể bật mí được bí mật! Những ý nghĩ này hầu như quá thực và quá lớn khiến trái tim trẻ thơ cơ hồ không kham nổi.

Cánh cửa căn nhà nhỏ vẫn rộng mở suốt đêm và mấy con chim ăn muỗi cứ tha hồ đến mà chíu chát inh ỏi theo từng bước nhảy. Anh chàng thể tháo gia cùng vị nữ gia chủ nghe chừng đã ngủ, nhưng kế hoạch trọng đại của Sylvia khiến nó cứ chong mắt dòm chừng. Nó quên cả việc ngủ. Đêm hè ngắn ngủi xem ra lại có vẻ dài thăm thẳm như màn đêm mùa đông, để rồi sau cùng khi mấy con chim ăn  muỗi đã giải tán thì nó lại sợ rằng buổi bình minh sẽ tới ngay sau đó, nên nó phải vội lẻn ra khỏi nhà và men theo con đường mòn dẫn vào rừng, rảo bước về phía vùng đất mở bên kia rừng, dõi nghe với tâm trạng cảm thông dễ chịu theo những tiếng líu ríu uể oải của mấy con chim còn ngái ngủ đang đậu trên cành khi nó đột ngột bước ngang. Ôi chao, sẽ ra sao nhỉ nếu như con sóng lớn của niềm mê thích của con người, con sóng đã lần đầu tiên ập tới cuộc sống bé nhỏ quạnh hiu này, nay lại quét đi cả niềm mãn nguyện được tồn tại trong tâm cảm cùng thiên nhiên và cuộc sống thinh lặng của rừng xanh!

Đây rồi gốc cổ thụ khổng lồ còn đang ngon giấc dưới ánh trăng đang dần nhạt, và Sylvia bé nhỏ dại khờ bắt đầu vận hết mọi can đảm, nỗ lực leo lên ngọn cây; máu rừng rực chảy trong huyết quản, nó dùng đôi tay và đôi chân trần bấu vào thân cây như con chim dùng móng vuốt bám vào chiếc thang khổng lồ, cố sức leo cao, cao nữa, để vươn tới tận trời xanh bao la. Thoạt tiên Sylvia phải leo lên cây sồi trắng mọc bên cạnh, trên đó nó như lọt thỏm giữa đám cành nhánh tối đen với những chiếc lá xanh rì ướt đẫm sương đêm. Một con chim vụt bay lên từ chiếc tổ nhỏ bé, rồi một con sóc đỏ bồn chồn chạy tới chạy lui nhìn kẻ đột nhập vô hại. Sylvia thấy sao dễ dàng quá. Nó vẫn thường leo trèo ở đó nên biết rõ là cây sồi có những cành nhánh cao hơn vươn ra tới sát cây thông già. Lúc đó nó sẽ làm một cuộc vượt cành đầy hiểm nguy từ cây này sang cây kia, và khi đó chuyến du hành kỳ vĩ mới thực sự bắt đầu.

Sau cùng nó bò dọc theo nhánh cây sồi đang đung đưa lắt lẻo, chuẩn bị sang giai đoạn nguy hiểm là chuyền sang cây thông già. Chặng đường này thực sự gian nan hơn nó tưởng, nó phải ra tới tận đầu nhánh và níu thật nhanh, mấy cành cây khô cản đường cào xước nó như vô vàn những móng vuốt sắc nhọn, nhựa ở vỏ cây khiến mấy đầu ngón tay nhỏ bé mảnh mai trở nên tê cứng và lóng ngóng; nó trườn lòng vòng quanh cành cây, cố sức leo cao, cao hơn nữa. Se sẻ và chim cổ đỏ trong các tán cây rừng bên dưới đã bắt đầu thức giấc, chúng líu ríu gọi nhau trong ánh bình minh; còn trên ngọn thông già trời đã hửng sáng hơn, và đứa bé gái biết rằng nó phải nhanh lên nếu như không muốn cho kế hoạch của mình bị vô dụng.

Nhánh sồi xem chừng như cứ kéo dài ra mãi khi Sylvia lên gần tới nơi, khiến nó cứ phải cố vươn lên cao thêm, cao thêm. Cây sồi giống như một chiếc cột buồm thật lớn cho quả đất đang du hành; vào buổi sáng hôm ấy ắt hẳn sồi cũng thực sự phấn khích khi cảm thấy được, qua toàn bộ những cành lá ô dề của mình, thứ ánh sáng rỡ ràng này của linh hồn con người đang chầm chậm len theo các nhành cây để vượt lên cao. Nào ai biết được, những cành nhánh yếu ớt nhất đã tự gắng sức biết dường nào để nâng đỡ cho sinh linh bé bỏng lấp lánh ấy trên đường vươn tới! Cội thông già chắc hẳn cũng thấy yêu thương lắm mối bận tâm mới của mình. Nó nghe nổi rõ mồn một, trên hẳn tiếng ồn ào của toàn bộ mấy con ưng, và dơi, và bướm đêm, và thậm chí trên cả những thanh âm ngọt ngào của bầy chim hét, là nhịp đập trái tim dũng cảm của đứa bé với đôi mắt xám kiên cường. Và rồi thông ta vẫn cứ đứng đó, khẽ cau mày trách cứ những cơn gió trong buổi sớm tháng sáu, khi vừng đông đang dần rạng ngoài kia.

Gương mặt Sylvia như một ngôi sao mờ ảo tít tắp trên cao, khi nó vượt qua được nhành cây gai góc cuối cùng, để đứng trên ngọn thông, toàn thân run lẩy bẩy, mệt nhoài nhưng hoàn toàn chiến thắng. Kia rồi, biển cả bao la như được dát vàng nhờ mặt trời buổi sớm, và một đôi chim ưng đang chầm chậm xoải cánh bay về phía vừng đông rạng ngời ấy. Từ độ cao này nhìn ra mới thấy chúng chậm rãi làm sao, nhất là khi trước đó người ta chỉ được thấy chúng như những vệt thẫm xa tít tận trời xanh. Bộ lông xám của chúng mềm mượt như những cánh bướm đêm, trông chúng có vẻ như rất gần với ngọn thông, và Sylvia bất giác cũng tưởng như mình có thể bay lên cùng những đám mây. Xa về trời tây, rừng cây và nông trang trải dài hàng nhiều dặm, đó đây điểm xuyết những gác chuông nhà thờ, những ngôi làng màu trắng, tất cả hệt như một thế giới rộng lớn bao la và tuyệt đẹp.

Tiếng muôn chim đua hót mỗi lúc càng thêm ồn ĩ. Rồi mặt trời cũng lên cao, chan hòa ánh sáng. Sylvia có thể trông thấy những cánh buồm trắng ngoài khơi xa, và những đám mây khi nãy đủ sắc tím, hồng, rồi vàng giờ đây bắt đầu nhạt bớt. Ở đâu nhỉ, chiếc tổ của con cò trắng giữa muôn trùng cành lá xanh tươi, và phải chăng khung cảnh kỳ vĩ tuyệt vời này cùng khúc hoan ca của thế giới chính là phần thưởng cho việc leo trèo vượt qua một độ cao điên cuồng như thế này? Này Sylvia ơi, hãy nhìn lại xuống bên dưới mà xem, nơi đầm lầy xanh ngắt ở giữa mấy bụi bu-lô ngời sáng và những cây độc cần xanh thẫm, ở chỗ mi đã có lần trông thấy con cò trắng, thế nào mi cũng sẽ lại được nhìn thấy nó; kia, kìa, nhìn kìa, một đốm trắng là chính  nó, giống như một chiếc lông trắng muốt đang vút lên từ cây độc cần đã chết khô, rồi dần trở nên lớn hơn, và bay cao hơn, rồi sau cùng đến gần hơn, và bay ngang qua chỗ cây thông với sải cánh vững chãi, chiếc đầu với nhúm lông mào và chiếc cổ thanh tú vươn dài. Và…đừng! đừng! Đừng vội nhúc nhích nghe mi, đừng phóng tia nhìn lấp lánh đầy tỉnh táo từ đôi mắt cuồng nhiệt của mi ra nhé, vì cò đang đậu trên một cành thông không xa mi lắm, nó ngoái lại gọi bạn rồi thong thả đứng rỉa lông đón chào ngày mới!

Một phút sau, khi có con chim mèo ồn ào tới đậu trên cây, kiểu đập cánh ầm ĩ vô lối của nó quá sức phiền nhiễu khiến con cò nghiêm trang bay đi mất, làm đứa bé không khỏi thở dài. Giờ đây con bé đã biết bí mật của cò rồi, con chim hoang dã thanh mảnh với bộ lông sáng cứ nhấp nhô như lượn sóng rồi vụt bay trở về nơi trú ẩn của nó trong thế giới xanh rì bên dưới. Thế là Sylvia, hoàn toàn mãn nguyện, bắt đầu thực hiện con đường gian nan trở xuống. Nó không dám nhìn xuống xa hơn bên dưới cành cây mình đang đặt chân, chuẩn bị sẽ bật khóc trong đôi lần nữa vì các ngón tay nhức buốt và đôi chân bị trượt đi đau đớn. Trong đầu nó cứ mải mê với những lời lẽ tuyệt diệu mà anh khách lạ ấy sẽ nói với nó và với những gì anh sẽ nghĩ tới khi nghe nó chỉ đường đi thẳng tới tổ cò.

“Sylvy! Sylvy!”, người bà già nua bận rộn gọi mãi, gọi mãi mà không thấy tiếng thưa đáp lời, chiếc giường nhỏ bé với tấm nệm nhồi vỏ đậu trống rỗng, còn Sylvia thì mất tăm mất tích.

Vị khách trẻ vừa thức giấc sau một giấc mơ, sực nhớ tới ngày vui thú sắp đến nên vội vã ngồi dậy soạn sửa để có thể bắt đầu thật sớm. Anh chàng tin chắc mình đã thấy đứa bé gái nhút nhát có dáng vẻ như thế nào khi hôm qua nó có một hay hai lần nói rằng nó đã từng trông thấy con cò trắng, và giờ đây chắc chắn nó phải được chuẩn bị để nói. Đây con bé đây rồi, trông có vẻ nhợt nhạt hơn bao giờ, bộ váy áo cũ nhàu rách và lấm chấm đầy gai. Bà ngoại và chàng thanh niên cùng đứng ngay cửa, gặng hỏi rối rít và đây chính là khoảnh khắc quý giá để nói về cây cần độc khô bên bờ đầm lầy xanh ngắt.

Nhưng Sylvia không nói một lời gì, dù bà nó ra sức cật vấn, và dù đôi mắt ân cần của chàng trai cứ nhìn xoáy vào mắt nó. Anh ta có thể làm cho hai bà cháu giàu lên, anh đã hứa như thế, mà hai bà cháu lại đang nghèo khó. Anh ấy thật xứng đáng để được vui và giờ đây anh ấy đang chờ nghe câu chuyện mà nó hoàn toàn có quyền kể.

Nhưng không, nó vẫn im lặng! Đã có điều gì đột nhiên ngăn cản, khiến nó trở nên câm nín như thế? Chẳng phải nó đã chín tuổi rồi, và giờ đây, khi lần đầu tiên trong đời, thế giới lớn lao chìa tay ra với nó, mà nó lại vội hất đi chỉ vì một con cò? Tiếng rì rầm của mấy nhánh cành thông vẫn văng vẳng trong đầu, nó vẫn nhớ như in hình dáng con cò trắng bay vụt lên xuyên thủng khối không trung vàng óng, và cách chúng cùng nhau ngắm nhìn biển cả trong buổi bình minh; Sylvia không nói được nên lời, nó không thể tiết lộ điều bí mật sẽ tước đi mạng sống của cò.

Kẻ trung thần đáng yêu vốn lẽ ra đã có thể lẽo đẽo theo người, phục vụ người, và yêu người như một con cún yêu chủ đã bị thất kinh vì tiếng súng bén ngót ngay sau khi khách lạ thất vọng bỏ đi vào hôm đó! Nhiều lần sau nữa, mỗi khi đang cùng con bò cái ưa thơ thẩn quay trở về nhà, Sylvia vẫn như nghe thấy tiếng huýt gió của chàng trai vọng đuổi theo nó trên con đường mòn. Nó thậm chí đã quên cả nỗi buồn của chính mình lúc nghe thấy tiếng súng sắc ngọt và tưởng như đang thấy mấy con se sẻ và chim hét rơi độp xuống đất, những bài ca véo von vụt im bặt, những bộ lông xinh đẹp nhuộm bết máu đào.  Những chim muông ấy có khi lại là những bè bạn đáng yêu hơn kẻ săn chúng gấp nhiều lần, phải thế không, nào ai biết được? Dù với bất kỳ thứ của cải nào mà con bé đã đánh mất, này hỡi rừng cây và thời khắc mùa hè, hãy nhớ nhé, hãy mang đến đây những tặng vật cùng muôn vàn ân sủng, và thổ lộ những niềm riêng của các ngươi cho đứa bé gái quê mọn lẻ loi này!

Người dịch: Trần Đan Hà