Biên hoang truyền thuyết - tập 3

Hồi 90

Docsach24.com

ến Phi lặn sát xuống đáy sông bơi ngược dòng đến khu bến thuyền Tiểu Kiến Khang ngoài Biên Hoang Tập. Từ dưới đáy sông nhìn lên hai bên bờ, ánh đuốc biến thành từng vòng từng vòng lung linh, cho người ta cảm giác như đang ở trong một cảnh tượng siêu thực. Mặc dù mới chớm sang xuân, nhưng nước sông thật trong suốt, mát mẻ và khoan khoái, dễ khiến người ưa thích. Chàng lại không sợ địch nhân có thể nhìn thấy mình vì đang bơi sâu dưới nước đến hai, ba trượng. Yến Phi mặc y phục dạ hành màu đen lại dựa vào bức lũy ven bờ, nên giống như hòa nhập vào với đất đá lồi lõm. Thú vị hơn nữa là ánh sáng chỉ có thể chiếu sâu xuống nước được một trượng, và nước sông như tấm gương chiết xạ phản chiếu ánh lửa ngược lại, trở thành sự yểm hộ tốt nhất.

Yến Phi triển khai kỳ thuật thở “Thai tức”,và chỉ trong chốc lát phát hiện một khe hở từ giữa hàng rào và bức lũy đá ven bờ. Chàng vượt qua cửa ngăn, tiến đến đoạn sông địch nhân phòng vệ thâm nghiêm. Thân mình đang ở khu vực rất nguy hiểm mà lại có cảm giác tuyệt đối an toàn, xác thực phi thường cổ quái.

Lúc rời khỏi khu bến tàu Tiểu Kiến Khang chưa được hơn mười trượng, đột nhiên trong lòng Yến Phi hiện lên triệu chứng cảnh giác. Sự nguy hiểm không phải từ bên ngoài, mà vấn đề phát sinh ra từ bản thân. Yến Phi cảm thấy nội tức không được liên tục, lúc này không có thời gian để suy nghĩ tại sao trước đây lại có thể đoạn tuyệt hô hấp cả trăm ngày mà vẫn sống, còn hiện tại bất quá chỉ bế khí dưới nước bơi đi chưa đến nửa dặm cũng chống không nổi. Chàng phải vội vàng vận kình vào hai tay, như cá linh hoạt nhanh nhẹn lao đi, chớp mắt đã vượt qua hai chiếc đáy thuyền màu đen, sau đó mạo hiểm trồi khỏi mặt nước giữa một chiếc thuyền và cầu tàu.

Tiếng hò hét, lừa kêu, bánh xe lăn, sóng vỗ vào bờ và tiếng đuốc đang cháy, tất cả hợp tấu như thủy triều tràn vào tai. Yến Phi dùng lực hít hai hơi không khí trong lành mới tỉnh táo trở lại. Địch nhân đang bận rộn để dỡ hàng hóa, không một ai để ý đến sự xâm nhập của chàng. Phương pháp thở ‘Thai tức’ dùng để thi triển trên bộ hoặc vận hành dưới nước rõ ràng có sự khác biệt. Vấn đề là lúc ở trên mặt đất thi triển phương pháp thở ‘Thai tức’ thì da có thể thay thế mũi và miệng, còn thật tình như thế nào thì chỉ có lão thiên gia mới biết rõ ràng. Bất quá hiểu được bản thân mình chưa phải thật là thần tiên lại khiến cho chàng cảm thấy thống khoái an tâm làm người. Ngày nào vẫn còn ở trong chốn sinh tử thì căn bản chẳng phải là thần tiên. Yến Phi lại lặn xuống nước hướng về thượng du bơi đi. Bên trên, tại bờ đối diện đang có hơn mười chiếc thuyền đợi chỗ trống ở cầu tàu bên này, địch nhân cũng đang bận rộn tối tăm mặt mũi, tự nhiên buông lơi phòng bị, nên cho chàng cơ hội để khai thác.

Khi đến vị trí chiếc thuyền cuối cùng trên thượng du phía bắc, rút cuộc chàng đã có được cơ hội. Chiếc thuyền này vừa mới hạ xong bảy, tám xe lừa hàng hóa trên thuyền xuống khu bến tàu, chuẩn bị rời bến. Yến Phi trườn lên bờ, đồng thời phát ra hai cỗ kình phong, làm cho hai ngọn đuốc gần đấy lập lòe sáng tỏ không đều, tình cảnh giống như bị gió lớn thổi tắt, bốn bên trở nên tối ám. Thừa lúc ánh sáng bị tắt, Yến Phi lẩn lên bến tàu và nhanh như quỷ mị chui xuống dưới một chiếc xe la và bám luôn vào gầm xe.

Bên ngoài vang lên một tràng chửi rủa, ngọn đuốc lại được đốt lên. Sau một chốc, xe lừa chuyển động. Yến Phi âm thầm thở dài một hơi, biết đã thành công một nửa. Chàng càng rõ ràng bằng vào thân thủ của mình, chỉ cần qua được cửa quan này ra ngoài, sẽ được tự do vào tập.

Trương Cổn được gọi đến lều chủ tướng gặp Thác Bạt Khuê. Người sau đang ngồi ngoài lều nhìn lửa trại, thần sắc như chìm vào suy tư.

Đây là thói quen bình thường của Thác Bạt Khuê. Mỗi khi trong lòng gã có nghi nan, thì lại thích trầm tư chăm chú nhìn ánh lửa lập lòe bất định. Sau khi chỉ thị cho y ngồi xuống bên cạnh, Thác Bạt Khuê vẫn không dời ánh mắt khỏi đống lửa, hờ hững lên tiếng: “Nói cho ta biết tất cả mọi sự việc liên quan đến Sở Vô Hạ và Ba Cáp Mã Tư.”

Trương Cổn rất ngạc nhiên và sau khi trầm ngâm một chút, trả lời: “Ba Cáp Mã Tư là hảo thủ đáng bậc tông sư từ Thiên Trúc lại. Đường lối võ công tâm pháp của y theo đường lối riêng biệt, vào thời kỳ Phù Tần đương quyền, y tìm đến Trường An. Lúc ban đầu Phù Kiên coi trọng, nhưng sau đó không lâu vì những người cạnh Phù Kiên bài xích, lại bị Phù Kiên bỏ rơi. Diêu Trường bị mê hoặc đối với thuật chiêm tinh của gã, nên quan hệ của hai người mới từ đó phát triển đến nay. Về phương diện tại sao gã và Sở Vô Hạ trở thành đối địch, việc này còn đang được điều tra và xác định.”

Thác Bạt Khuê giống như không nghe y nói chuyện, nói: “Xem này! Ngọn lửa thật lạ kỳ và mỹ lệ, biến đổi trong mọi thời khắc. Thiêu đốt là một loại hao tổn, chỉ là đem cành gỗ bình thường chuyển hóa thành một vật khác hoàn toàn bất đồng.”

Gã nhìn sang y hỏi: “Vì sao ngươi không nói về Sở Vô Hạ trước?”

Trương Cổn ngây ra rồi trả lời: “Bởi vì ta có chút không dám nhắc đến thị.”

Thác Bạt Khuê mỉm cười: “Hãy trả lời thật với ta, có phải ngươi nghĩ ta không nên dính dáng đến nữ nhân này?”

Trương Cổn than: “Thị khiến ta nhớ đến câu nói `Hồng nhan họa thủy´.”

Thác Bạt Khuê hỏi đầy hứng thú: “Từ đâu ngươi có cái ý tưởng này?”

Trương Cổn nói: “Sở Vô Hạ là mỹ nữ Di Lặc Giáo nổi tiếng mỹ lệ tại Phương Bắc, nhưng tình trạng dư luận lại khác nhau. Có người nói thị là do ni cô Huệ Huy tuyển ra từ hàng ngàn hàng vạn nữ đồ, đem nghệ thuật dụ hoặc nam nhân truyền cho thị. Lại có người nói thị là nữ nhân của Trúc Pháp Khánh. Một số người lại nói thị là tình nhân của Trúc Bất Quy đã chết trên tay Tạ Huyền. Chân tướng e rằng tự mình thị mới rõ ràng.”

Thác Bạt Khuê xác định: “Thị gọi Trúc Pháp Khánh là cha.”

Trương Cổn ngạc nhiên: “Lại có vấn đề như thế à?”

Thác Bạt Khuê vặn eo uể oải: “Xác thực như thế, thị còn nói muốn đi lấy lại những đồ vật của cha thị sau nhiều năm sưu tầm được từ các chùa chiền tặng cho ta.Chắc là nàng vừa ý ta!”

Trương Cổn chau mày, giọng lo lắng: “Di Lặc Giáo thủy trung vẫn là tà giáo, danh dự không được tốt đẹp. Nếu như Tộc chủ có dính dáng với nàng, sẽ ảnh hưởng đến uy danh Tộc chủ. Thuộc hạ lại sợ thị lòng lang dạ thú, nghĩ lợi dụng chúng ta trùng chấn Di Lặc Giáo, hoặc muốn làm tổn hại tình cảm huynh đệ giữa Tộc chủ với Yến Phi.”

Thác Bật Khuê gật đầu: “Di Lặc Giáo sớm kết thúc rồi, lại không còn hy vọng sẽ được trùng hưng. Nữ nhân này giống như một đống lửa cháy, không ngừng phản phúc biến hóa. Tóm lại càng mỹ lệ bao nhiêu, lại càng nguy hiểm bấy nhiêu.”

Gã chuyển đề tài khác: “Khi nào ta mới lập quốc xưng đế đây?”

Trương Cổn hiểu rằng gã không thích thảo luận tiếp vấn đề Sở Vô Hạ, nên đáp: “Chúng tôi từng thương lượng qua vấn đề này, đang muốn mang ý tưởng bẩm lên Tộc chủ. Trước mắt chính là cơ hội tốt nhất, có thể khích lệ sỹ khí, phấn chấn nhân tâm.”

Thác Bạt Khuê lại nhìn lên ngọn lửa đang không ngừng nhảy múa, thong thả nói: “Lập Quốc xưng đế là việc Mộ Dung Thùy rất khó bỏ qua. Hừ! Y một mực tự cho mình là cứu tinh của Tiên Ti Tộc, đã không dung cho Mộ Dung Tiên Ti phân ra, cũng không đồng ý cho Thác Bạt Tiên Ti chúng ta tự lập môn hộ. Hiện tại dùng chiêu này rất lãng phí, còn chưa phải lúc. Trở về nghỉ ngơi cho khỏe đi! Ngày mai chúng ta sẽ quay lại Thịnh Nhạc.”

Trương Cổn biết ý cáo lui.

Nghe theo tiếng bước chân Trương Cổn rời đi, Thác Bạt Khuê đột nhiên nhớ đến Vương Mãnh. Bất quá gã không phải nghĩ đến công lao của Vương Mãnh trợ giúp Phù Kiên thống nhất phương Bắc, mà về việc Vương Mãnh từng tận lực khuyến cáo Phù Kiên giết chết Mộ Dung Thùy để tránh nuôi hổ sinh họa. Dự đoán của Vương Mãnh đã thành hiện thực rồi. Thất bại ở Phì Thủy nguyên nhân một phần là do Mộ Dung Thùy án binh bất động. Nếu như hắn khẳng khái toàn lực hỗ trợ thì Phù Kiên đã không gặp thảm bại ở Phì Thủy. Sau đó Mộ Dung Thùy lại là Đại tướng dị tộc đầu tiên li khai Phù Kiên.

Vì sao đột nhiên gã lại nghĩ đến sự kiện này nhỉ? Sở Vô Hạ tuyệt không thể giống như Mộ Dung Thùy, ở trên tay thị không có thực lực. Chỉ cần vĩnh viễn không để cho thị cơ hội nắm quyền, thị chỉ có thể là người được sủng ái ở trong tư phòng. Thác Bạt Khuê gã không phải Phù Kiên, chỉ cần Sở Vô Hạ lộ ra ý phản bội, y sẽ tự tay xử quyết thị. Trương Cổn thật quá lo rồi.

Lưu Dụ tiến vào doanh trướng của Trác Cuồng Sinh, vị danh sỹ sản sinh từ Biên Hoang đang múa bút như bay trên một cái bàn gỗ, nỗ lực làm việc vì gã. Lưu Dụ không hiểu tại sao y vẫn có được vẻ nhàn rỗi vô tư, nên rất ngạc nhiên.

Trác Cuồng Sinh dừng bút cười nói: “Lưu gia đến hay lắm! Ta đang viết về ngươi, chương đầu tiên là “Nhất tiễn trầm Ẩn Long” Khặc! Lưu Dụ lấy ra cung thần nặng năm trăm cân, đặt ‘Phá long tiễn’ lên trên, kéo ra thành hình như vành trăng tròn, tiếp theo hét lên một tiếng `đi´. Âm thanh chấn động hai bờ Tân Nương hà. ‘Phá long tiễn’ rời cung lao đi, âm thanh xé gió vang lên, gió mây cũng biến sắc, địch nhân trên thuyền đều kinh hãi thì …”

Lưu Dụ cười khổ ngồi xuống nói: “Đủ rồi …. Đủ rồi! Lại còn khoa trương nữa sao? Ngươi tính viết sử gì đây?”

Trác Cuồng Sinh vui vẻ nói: “Đương nhiên là Lịch sử Biên Hoang, lại là quyển sách lịch sử rất hứng thú. Sách lịch sử cũng có chia ra chính sử và dã sử. Bản thân ta đây kể chuyện là chuyên môn, tự nhiên lấy thú vị làm chủ, toàn là vì vui người vui ta, khoa trương sai sự thật một chút đâu có vấn đề. Trọng yếu nhất là tinh thần không thay đổi. Nếu như không ai muốn nghe những chuyện như vậy, thì lão tử đã phải bỏ đi mất đất. Dẹp chính sử cái con bà nó, cũng chỉ vì lợi ích của mọi người. Lão tử viết thiên thư của lão tử, người khác quyền gì mà quản cái con mẹ nó à. Minh bạch chưa? Không có người nào cưỡng bức ngươi phải nghe những điều khổ sở ấy!”

Lưu Dụ phát giác mình càng ngày càng ưa thích Trác Cuồng Sinh, là một người chí tình chí nghĩa, yêu mến Biên Hoang Tập sâu sắc.

So ra bất luận người nào hiểu được thế nào là hưởng thụ cuộc sống thì họ sống thật sâu sắc làm người khác phải động lòng. Gã gật đầu: “Xác thực có chút méo lệch! Bất quá cái nỏ lớn không phải có sức thuyết phụ hơn so với thần cung năm trăm cân sao?”

Trác Cuồng Sinh lắc đầu: “Hình tượng khác nhau mà! Làm sao có thể nói ngươi ngồi lôi thôi ở trên mặt đất dùng chân để kéo cung ra, lại cẩn thận đem ‘Phá long tiễn’ đặt cố định ở trên nỏ vì sợ làm sai, chứ?”

Lưu Dụ than: “Nói không lại ngươi! Ngươi muốn viết thế nào thì viết như thế đi!”

Trác Cuồng Sinh để bút lông xuống, hỏi: “Lưu Gia đại giá quang lâm, không biết có gì phân phó đây?”

Lưu Dụ chỉnh dung mạo: “Ta muốn cùng ngươi thương lượng vấn đề tổ chức đội quân tinh nhuệ của Biên Hoang chúng ta, phân chia quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng. Ngươi đối với mọi người đều quen thuộc, bởi vậy mới nghĩ đến lão nhân gia ngươi chỉ giáo.”

Trác Cuồng Sinh không hiểu: “Không phải tất cả đều đã phân phối thỏa đáng rồi sao? Phí Nhị Phiết nắm tài chính, Trình Đổ Tiên phụ trách y dược, Bàng Lão bản chủ quản vật tư lương thảo, Phương Tổng Quản phụ trách trị an quy củ. Những sự việc nhỏ như thế đều phân phái kỹ lưỡng, còn có việc gì nữa đây?”

Lưu Dụ giải thích: “Kỳ thật ta muốn có một nghi nghi lễ chính thức cho Hoang nhân tham dự tuyên thệ trung thành với Biên Hoang Tập và lễ gia nhập Dạ Oa Tộc. Dùng để cổ võ sỹ khí, tăng cường đoàn kết Hoang Nhân. Để cho mọi người đều biết trận đánh này là vì Biên Hoang Tập. Đồng thời tuyên bố chức vị các lãnh tụ, từ đây Biên Hoang chúng ta trở thành đội quân hùng mạnh vận hành có khuôn phép.”

Trác Cuồng Sinh vui vẻ gật đầu: “Chủ ý tốt. Hoàn toàn là ngươi có kinh nghiệm trị quân, ta lập tức chuẩn bị, về phương diện này ta rất quen tay. Ngày mai sẽ đem trình tự chi tiết Biên Hoang đại điển đơn giản mà long trọng vào lều Chủ Soái đưa cho ngươi, để Lưu gia kiểm tra qua.”

Lưu Dụ vui vẻ bỏ đi. Tinh thần gã đã tập trung trọn vẹn cho cuộc chiến phản công Biên Hoang Tập, lấy công tác để chống lại nỗi bi ai trong lòng. Gã sẽ không để cho mình được nhàn hạ, cho đến thời khắc Lưu Lao Chi và Hoàn Huyền sụp đổ táng mệnh.

Mộ Dung Thùy đi vào trong lều, Phong nương và Tiểu Thi vội vàng lui ra, chỉ còn lại mỗi Kỷ Thiên Thiên đơn độc đối mặt với vị Quân chủ Đại Yên Quốc.

Kỷ Thiên Thiên bình tĩnh ngồi trong màn che hình vuông rộng rãi thoáng mát, sạch sẽ như không nhuốm một chút tạp chất, lại thêm đôi mắt trong sáng thâm thúy mặc trắc, nghênh đón mục quang sắc bén của Mộ Dung Thùy một chút cũng không nhường, không có chút ý lùi bước.

Mộ Dung Thùy ngồi xuống đối diện nàng, than thở: “Trẫm có thỉnh cầu thế này, mong Thiên Thiên sẽ cải biến quyết định, để trẫm bồi Thiên Thiên đến Thái Hành Sơn cho khuây khỏa nhé?”

Kỷ Thiên Thiên thần sắc tựa như mệt mỏi chậm chậm lên tiếng: “Trừ phi Hoàng thượng dùng thủ đoạn cưỡng bức, nếu không ta tuyệt đối sẽ không bồi tiếp.”

Mộ Dung Thùy hiện ra thần sắc ngạc nhiên, cười khổ: “Thiên Thiên đương nhiên rõ ràng Mộ Dung Thùy ta là một người như thế nào. Cưỡng bách Thiên Thiên lưu lại bên cạnh thật tình bất đắc dĩ, sao đã sai một lần lại sai nữa, để cho bọn Thiên Thiên khinh miệt ta. Ngày mai Thi Thi có thể tùy hành, thẳng lên Thái Hành Sơn du ngoạn, như thế Thiên Thiên có phải hồi tâm chuyển ý không?”

Kỷ Thiên Thiên ngắt lời nói: “Ta đã quyết định rồi, không đi là không đi, khả dĩ không có gì để mặc cả hết.”

Ánh mắt Mộ Dung Thùy biến thành sắc nhọn hơn, chằm chằm nhìn nàng, sau một chốc gật đầu: “Thiên Thiên tức giận rồi!”

Kỷ Thiên Thiên thần sắc chẳng lộ một chút dao động tâm tình, thản nhiên: “Ta không phải tức giận, mà chỉ là thất vọng thôi. Mộ Dung Thùy là hảo hán kiểu gì vậy? Cho Kỷ Thiên Thiên là chó để lĩnh thưởng hoặc thụ phạt sao? Ngươi nên tự suy nghĩ lại!”

Mộ Dung Thùy bị mắng cho trở thành ngây ngốc, mặc nhiên không nói lại, tiếp theo đột nhiên cười phá lên, nói: “Mắng rất hay! Mắng thật sắc bén. Mộ Dung Thùy ta từ khi sa sút, không thể không đi theo dưới trướng Phù Kiên, bị đối xử lạnh nhạt và bỏ quên, nhưng chưa có ai từng dám trước mặt chửi ta. Huống hồ giờ đây đang là chủ Đại Yên, trong thiên hạ có người nào không sợ, lại bị Thiên Thiên trước mặt chỉ đích danh trách mắng, cảm giác thật là phi thường thống khoái. Đúng! Là ta không đúng! Xin Thiên Thiên rộng lượng.”

Y từ từ đứng lên, hai mắt lộ ra yêu thương sâu sắc, nhẹ giọng nói: “Mong Thiên Thiên lượng xét cho tâm trạng có phần hơi gấp gáp thái quá nhưng thực lòng cầu xin của ta. Đợi qua vài ngày Thiên Thiên hết giận rồi, Mộ Dung Thùy sẽ lại thỉnh tội với Thiên Thiên.”

Nói xong lùi ra khỏi lều.

Yến Phi nằm phục trên mái ngói Thái Hoa Cư, quan sát hoàn cảnh chung quanh. Điều đầu tiên đập vào mắt là tình hình khác biệt so với lần trước y đột nhập vào Dạ Oa Tử. Nơi nơi ánh đèn tỏa sáng như ban ngày. Cả trăm xe lừa được dùng để chở lương thảo vật tư mang đến các tòa nhà ở những khu vực khác nhau gần đấy. Đây có lẽ là lần bổ sung vật tư cuối cùng trước khi đại chiến, bởi vậy địch nhân phải động viên toàn thể, muốn nội trong một đêm đem vật tư phân phối thỏa đáng. Chàng có thể cảm giác được sỹ khí địch nhân cao hơn so với lần trước, lương thảo đầy đủ. Nhu cầu cần thiết đã được giải quyết, càng khích lệ sỹ khí và đấu chí.

Hơn mười chiếc xe lừa đang đỗ trước Thải Hoa Cư và những tòa nhà bên phải, bên trái liền kề bên ngoài đại môn. Hàng hóa vừa dỡ xuống lập tức được mang ngay vào trong bảy, tám tòa nhà vẫn do Hung Nô quân trú đóng, hiện tại trong tòa nhà lại trống không. Lý do chính là Hách Liên Bột Bột bị sai đi nên mới đổi thành tình trạng hiện tại. Mặt khác, Diêu Hưng không còn tín nhiệm Hách Liên Bột Bột, và trọng yếu hơn là có thể tích kiệm lượng lớn lương thực. Ngoài ra binh lực Diêu Hưng và Mộ Dung Lân liên hiệp cũng đã đủ để ứng phó sự phản công của Hoang nhân.

Yến Phi tại Tiểu Kiến Khang trốn dưới gầm xe lừa, không ngờ đi trúng vào trong một tòa nhà chuyên phát quân phục. Sau khi lấy trộm và mặc lên người xong một bộ quân phục Mộ Dung Tiên Ti, chàng dùng tuyệt thế thân pháp tung hoành ngang dọc để nắm rõ tình trạng địch nhân.

Tiểu Kiến Khang trở thành vựa lúa, đây là một lựa chọn sáng suốt. Tiểu Kiến Khang tạo thành một khối, dễ dàng phòng thủ, gồm Đông sát Dĩnh Thủy, Nam dựa Dạ Oa Tử, lại nằm ở khu vực Đông Bắc Biên Hoang Tập. Hoang nhân đến từ hướng Nam, tuyệt sẽ không đi một vòng lớn để tấn công Tiểu Kiến Khang trước. Chàng cũng đã tra xét qua khu vườn hoang của Lương Thị ở trong Tiểu Kiến Khang, bí đạo đã bị đá lớn bịt lại, không thể dùng thông đạo để xuất nhập nữa. Bất quá đây đúng như dự liệu nên Yến Phi chẳng vì thế mà thất vọng.

Điều khiến cho chàng thất vọng chính là “Đạo Nhật Phong” không phải được giấu ở trong Thái Hoa Cư. Bên trong cung tên được chất thành đống lớn, lại không thấy chút dấu vết “Đạo Nhật Phong”. Lối vào bí đạo nằm ở chính giữa đại đường, bị một giỏ tre lớn đựng đầy tên che lấp. Do có người qua lại nên chàng không dám đến gần chỗ giỏ tên để kiểm tra bí đạo. Rốt cuộc “Đạo Nhật Phong” đang ở đâu? Khẳng định không phải Thái Hoa Cư hoặc những tòa nhà gần đây, bởi vì chàng đã tìm lục soát khắp nơi.

Yến Phi cảm thấy rất đau đầu. Nhìn cách sắp xếp thì công tác vận lương sẽ kéo dài đến trời sáng. Đợi đến khi an trí xong vật tư, Biên Hoang Tập trở lại trạng thái bình thường, lúc ấy chàng không thể dùng khinh công phi lên nhảy xuống. Muốn tìm cho được “Đạo Nhật Phong” nhưng địch nhân lại giới bị sâm nghiêm thì khó mà động tay động chân. Bởi vậy tối nay là cơ hội duy nhất, nếu để qua đi thật khó có lại được tình hình có lợi như hiện tại.

Một đội nhân mã hấp dẫn sự chú ý của chàng, hơn mười chiếc xe lừa đi ngang qua quảng trường Chung Lâu, hướng Cổ Chung Lâu đi tới, sau đó dừng lại trước Cổ Chung Lâu dỡ hàng hóa. Yến Phi nhìn thấy thì ớn lạnh xương sống, vì hàng hóa không phải là vũ khí hoặc lương thảo được dỡ xuống mà là đồ gỗ và đất đá, chất thành một đống giống như một tòa núi nhỏ.

Yến Phi trong lòng kêu mẹ ơi. Địch nhân đã hiểu rõ tính quan trọng của Chung Lâu trong “Công phòng chiến”, dường như từ chỗ nội gian mà biết được bọn chàng có đại kế dùng kỳ binh đột tập để chiếm Cổ Chung Lâu.

Đất đá và đồ gỗ chính là để dựng bờ lũy bảo hộ Cổ Chung Lâu. Nếu dùng chiến sỹ cao thủ và thiện xạ để giữ, thì dù không có trở ngại nào khác, Hoang nhân có dùng hết lực lượng để công hãm tòa bảo kiên cố này vẫn không dễ chút nào. May mắn hiện tại mình ở nơi này, nếu không đợi đến lúc đánh vào quảng trường đối diện mới biết, thật sẽ hối hận không kịp. Dưới tình hình này, tác dụng của “Đạo Nhật Phong” càng trở nên quan trọng. Nghĩ đến đây, lòng chợt động, chàng nhớ đến lời Phí Nhị Phiết nói đùa về địa phương an toàn nhất phải là phòng ngủ của Diêu Hưng. Không biết Diêu Hưng có đem “Đạo Nhật Phong” giấu trong phòng ngủ của hắn không?”