Biên hoang truyền thuyết - tập 2

Hồi 44

Docsach24.com

ừ Đạo Phúc rởn da đầu nhìn ngọn đèn đỏ thứ nhì từ tử treo cao, nhất thời quên luôn phát ra mệnh lệnh đã quyết định cho tiền trận.

Vùng lửa đỏ bên trái cách khoảng hai dặm càng lúc càng cháy dữ dội, theo thế gió tất sẽ bọc từ từ qua hướng Đông Nam, nếu không có người cứu hỏa, có thể thiêu suốt mấy ngày mấy đêm, đốt cho đếp khi không còn gì để đốt, hoặc trời đổ mưa lớn,

Trương Vĩnh bên trái gã nói: “Bọn ta khốn khổ lắm mới chặt được số mộc liệu đang bị thiêu rụi kia!”.

Chu Trụ bên phải cau mày: “Sao lại có thể được? Binh sĩ canh phòng mộc liệu đều lo tới gỗ bị đốt, cho dù trúng phải thập tự hỏa tiễn của đối phương vẫn không dễ gì cháy dữ như vậy”.

Thập tự hỏa tiễn là một thứ tên đặc chế, cách mũi tên chừng hai tấc có một nhành ngang nhỏ, vốn dùng cho thủy chiến, lúc bắn trúng vải buồm dễ cháy của đối phương dù không xuyên thấu vẫn có thể bám lên, tiếp tục thiêu đốt. Sau này phương pháp đó được ứng dụng rộng rãi cả cho lục chiến, chố “thập tự” cột thêm vật liệu dễ cháy tẩm dầu hỏa, tăng gia thời gian và hỏa thế thiêu đốt.

Từ Đạo Phúc nghe miệng lưỡi của hai người, biết hai người ám thị sự bất mãn đói với “sự làm việc bất lực” của Lư Tuần, chỉ bất quá không dám chỉ trích trực tiếp, nói toạc ra.

Số mộc liệu đó quả là tâm huyết của gã.

Bắt đầu từ đêm hôm trước, người của gã đốn cây, lại quét thuốc chống lửa lên mộc liệu. Đối với công phu chuẩn bị trước trận chiến, Từ Đạo Phúc chưa bao giờ cẩu thả, bất quá thành quả lao động gian khó hai ngày trời không ngờ lại bay theo khói lửa.

Trong Thiên Sư quân, Tôn Ân cao cao tại thượng, người người kính sợ sùng bái như thiên thần, không có ai nghi ngờ chất vấn địa vị lãnh tụ tối cao của y.

Còn Lư Tuần và Từ Đạo Phúc, họ Lư bất đắc nhân tâm là vì tác phong tàn nhẫn bất nhân của hăn, còn là vì hắn ham thích đại công ta đây vĩ đại, coi thủ hạ là công cụ lợi dụng.

Từ Đạo Phúc trái lại hiểu thấu đạo làm soái, biết mua lòng người, luận công hành thưởng, cùng thủ hạ tướng sĩ chia sớt vinh nhục cam khổ.

Từ Đạo Phúc lắc đầu: “Bọn ta đã đánh giá thấp địch nhân, hỏa tiễn mỏn mọn tuyệt không thể tạo thành phá hoại lớn như vậy. Chắc là loại hỏa khí nào đó, không cần bắn trúng mục tiêu, lại có thể khiến cho lửa ngùn ngụt lan rộng ra, bao trùm toàn đội xe chở gỗ”.

Nói xong mục quang quay lại nhìn hai trản đèn đỏ giăng cao, lòng tràn ngập cảm giác cổ quái.

Đối phương sao lại tựa hồ thấu hiểu tính cách của gã như nằm trong bụng gã vậy? Lúc nhìn thấy cây gỗ phát hỏa, trong lòng lập tức kích thích đấu chí không chịu khuyết tất dưới thắng lợi của địch nhân, chuẩn bị cải biến chủ ý, sai tiền trận tấn công mạnh Nam môn, vừa thăm dò hư thực của địch nhân, còn muốn giành lại thanh thế, chấn hưng sĩ khí bên mình đã bị kềm chế.

Thật ra là ai đã hạ lện giăng cao trản đèn đỏ kia?

Trong Biên Hoang Tập ai mà minh bạch mình như vậy?

Từ Đạo Phúc thần hồn chấn động, song mục bắn ra thần sắc đau xót.

Trương Vĩnh và Chu Trụ phát giác có gì lạ, ngạc nhiên nhìn gã.

Từ Đạo Phúc vụt hồi phục lại sự bình tĩnh, trầm giọng gằn từng tiếng: “Lùi lại nửa dăm! Chấp hành lập tức”.

Trương Vĩnh và Chu Trụ nghe vậy đưa mắt nhìn nhau, nói không nên lời.

o0o

Tiểu Thi la ầm ĩ: “Lui binh rồi!”.

Trác Cuồng Sinh ngạc nhiên: “Tiểu tử đó nhạy quá, như biết được bọn ta sẽ phái bộ đội ứng biến, dùng hỏa du đạ đốt cho gã lên trời luôn”.

Địch nhân mặt Nam Biên Hoang Tập đang từ từ triệt thoái có tổ chức, hai cánh kỵ binh bất động, hậu trận quay đầu đi cả ngàn bước, sau đó dừng chân lập trận, tiền trận mới khởi hành. Đợi đến khi tiền hậu trận hợp lại, mới đến lượt kỵ binh có tính cơ động cao. Quá trình cứ như vậy mà lặp đi lặp lại, toàn quân may chóng dời lui.

Vùng lửa đỏ mặt Tây Nam lại có xu thế lan tràn, tiếng chém giết đã giảm thiểu. Đèn hiệu từ bên tiểu cốc cho biết Đồ Phụng Tam và Mộ Dung Chiến đã phong tỏa địch nhân, làm cho địch nhân không có cách nào kiến lập cứ điểm giữa Tập và cốc để cắt đứt liên hệ.

Kỷ Thiên Thiên đôi mắt đẹp đăm chiêu nhìn địch nhân không ngừng thoái lui mặt Nam, dịu giọng: “Gã quả biết được tôi sẽ xuất Tập đột kích, hơn nữa từ thế lửa bên tiểu cốc đã phán đoán ra hỏa khí bọn ta đặc chế đủ sức đả kích nặng nề đến bọn chúng dù có sự hộ vệ trùng trùng”.

Trác Cuồng Sinh không hiểu: “Nghe lời nói của tiểu thư, Từ Đạo Phúc tựa như biết được người chỉ huy đại cục trên đài cao là tiểu thư nàng chứ không phải ai khác, có đúng không?”.

Kỷ Thiên Thiên thở dài một hơi, buồn bã thốt: “Tôi cố ý để gã biết người gã đối địch là tôi. Nếu muốn gã thắng, tôi cũng phải thắng quang minh chính đại, dù sao cũng đã từng tương giao”.

Trác Cuồng Sinh cười khổ: “Ở góc độ binh gia mà nói, đương nhiên là binh bất yếm trá, địch nhân biết càng ít càng tốt. Bất quá tiểu thư không phải là binh gia tầm thường, Biên Hoang Tập càng không phải là thành trì phổ thông, ngoại lệ trái với chuyện thường. Tiểu thư có thể nào gạt bỏ chỗ ngắc ngứ của ta tại sao chỉ treo một trản đèn đỏ là Từ Đạo Phúc liền có thể đoán ra ai đang phát hiệu thi lệnh không? Tiểu thư làm sao lại biết gã sẽ đoán được?”.

Kỷ Thiên Thiên đôi mắt trong ngần bắn ra thần sắc hoài niệm, giọng điệu lại không hiển lộ bất cứ sóng gió tình từ gì, chỉ như thuật lại chuyện cũ lâu đời đã sớm quên lãng: “Ở Kiến Khang đối thủ có đủ đẳng đủ cấp đấu tửu lệnh với tôi không có mấy ai, Từ Đạo Phúc là một, song phương thắng có bại có. Trò chơi đó chỗ lý thú nhất là không cho phép nhường nhau, nếu không sẽ không thành trò chơi. Vì để tăng gia lạc thú, cái bọn tôi đấu không những là thi văn nhạc khúc, bên cạnh còn có chuyện quan hệ trong thiên hạ. Công thủ tư nhiên sẽ rõ tính cách tác phong của đối phương. Tôi cố ý đang lúc gã phát động tiền trận mà giăng đèn đỏ, là muốn biểu lộ với gã tôi đã đoán trúng tâm ý của gã. Gã đột nhiên cải biến thành thoái lui, cũng là biểu lộ gã đoán được là tôi, biết tôi tất có mưu đồ khác”.

Trác Cuồng Sinh thở dài: “Nói như vậy, tiểu thư đã đem đấu tửu lệnh với gã dời ra chiến trường, hy vọng kẻ say gục trước là gã!”.

Lúc đó Bàng Nghĩa lại đã trở về.

Mọi người kinh ngạc, lẽ nào chỉ tốn có hai khác mà y đã hoàn thành nhiệm vụ dời chuyển mộc lôi thích?

Bàng Nghĩa thần sắc ngưng trọng đến trước mặt ba người.

Trác Cuồng Sinh dùng nhãn quang hỏi dò chăm chăm nhìn y, cau mày: “Xảy ra chuyện gì? Không phải vì bọn chúng sợ cực, cả lệnh tiễn của tiểu thư thân hành phát ra cũng không tuân lời chứ?”.

Bàng Nghĩa lắc đầu: “Ai dám trái lệnh của tiểu thư chứ? Chỉ là ta nhìn Dĩnh Thủy, càng nhìn càng phát lãnh, vội quay về nói ra nguyên nhân làm ta sợ với tiểu thư”.

Kỷ Thiên Thiên thân hình yêu kiều run lên: “Bàng lão bản sợ Mộ Dung Thùy học theo Vương Bí con của mãnh tướng Vương Tiễn thời cổ Tần dẫn nước rót vào thành Đại Lương, lấy Dĩnh Thủy mà rót vào Biên Hoang Tập?”.

Tiểu Thi giật nảy mình: “Tôi không hiểu thủy tính!”.

Bàng Nghĩa thương tâm nhìn Tiểu Thi, đang định nói gì, Trác Cuồng Sinh cau mày: “Đây đâu phải là chuyện một, hai ngày có thể làm được”.

Bàng Nghĩa nói: “Bọn ta có thể động dụng số gỗ giành kiến trúc Đệ Nhất Lâu, bọn chúng có thể đem một nửa số bè tháo ra cung cấp. Với sự phong phú kinh nghiệm của Mộ Dung Thùy, khẳng định không thể khoanh tay dâng quyền khống chế thượng du Dĩnh Thủy. Một khi công phá lâu không được, đương nhiên không thể khách khí với bọn ta. Tới lúc mộc lôi trận, máy bắn tê, địa lũy, hỏa du đạn đều bị nước cuốn, sau trận hồng thủy, bọn ta sẽ không chịu nổi một chiêu”.

Trác Cuồng Sinh mặt mày tái nhợt, kinh hãi thốt: “Có lý! Sao trước đây bọn ta không có ai nghĩ đến điểm này vậy?”.

Bàng Nghĩa nói: “Đây gọi là người trong cuộc mê man, ta vừa mới từ ngoài về, cho nên chỉ coi như mới trong cuộc một nửa. Hiện tại ai ai trong Biên Hoang Tập đều nghĩ đêm nay làm sao ứng phó với sự giáp kích của địch nhân, còn có tâm tình gì mà nghĩ chuyện khác”.

Y nói tiếp: “Vừa nãy ta đứng bên bờ Dĩnh Thủy, khoái trá tưởng tượng mộc lôi thích thuận dòng xung kích thuyền địch, bất chợt nghĩ đến nếu mưa lớn, nước sông dâng cao, mộc lôi thích đâu tránh khỏi bị nước cuốn đi. Lúc đó ta bỗng nghĩ đến cái chiêu hung tàn rót nước vào Biên Hoang Tập, càng nghĩ càng cảm thấy không hay, nhịn không được lập tức chạy về thương lượng với các người”.

Trác Cuồng Sinh nói: “Nếu bọn chúng có hành động lạ, tất không qua mắt được nhân mã đường thủy đường bộ hai bên Tống Mạnh Tề và Thác Bạt Nghi”.

Liền như tự giải thích cho mình: “Đương nhiên, nếu Mộ Dung Thùy xua bọn họ khỏi khu vực, rất có thể sẽ làm theo kế hay này. Bọn ta rất mau chóng biết rõ”.

Kỷ Thiên Thiên cắn môi, trầm ngâm một hồi, gật đầu: “Lo lắng của Bàng lão bản có lý, cho dù Mộ Dung Thùy hiện tại không có ý tưởng như vậy, tới lúc đánh lâu không được cũng sẽ nảy ra ý này. Phép ứng phó duy nhất của bọn ta là lập tức chuẩn bị. Bàng lão bản có đề nghị gì không?”.

Bàng Nghĩa thấy ý nghĩ của mình được tiếp nhận, hưng phấn lên: “Lầu phòng của Biên Hoang Tập không sợ nước sợ lửa. Đương nhiên phòng xá thấp bé vẫn sẽ bị cơn hồng thủy nuốt gọn. May ra lầu phòng của Dạ Oa Tử đều có hai ba tầng, bọn ta trước hết đem vật tư rời lên tầng trên của lầu phòng, đồng thời thiết lập hệ thống cảnh báo hồng thủy, một khi phát hiện có gì không hay, lập tức toàn thể triệt thoái lên chỗ cao tránh nạn”.

Trác Cuồng Sinh cau mày: “Các làm như vậy có thể giảm nhẹ tổn thất của bọn ta, nhưng súc vật gia cầm trong Tập thì sao? Tất cả chướng ngại đều bị cuốn đi. Nếu địch nhân thừa thế kéo bè đến công phá, liền có thể thâm nhập trọng tâm của bọn ta, khiến bọn ta coi như thua trận”.

Bàng Nghĩa vững lòng tin: “Cái ta vừa nói tới chỉ là lớp thứ nhất, lớp thứ nhì là dùng trong tường Đông Bắc đắp đất và dùng bao cát đá thiết lập đê ngăn nước kiên cố. Hồng thủy không thể duy trì lâu, bọn ta chịu được vòng xung kích thứ nhất là đại công cáo thành”.

Trác Cuồng Sinh nói: “Sao không đem đê ngăn nước đẩy ra bên bờ ngoài tường Đông?”.

Bàng Nghĩa đáp: “Vì mức độ gian khó tăng nhiều, càng gần thủy đạo thì thủy lực càng mạnh, mức độ kiên cố của đê ngăn nước cần phải tăng gia gấp nhiều lần. Địch nhân nếu theo cách rót nước vào Biên Hoang Tập, tất cần xây đập nước trùng trùng ở thượng du, lúc phát động đồng thời mở rộng, mới có đủ thế nước nhất cử tiêu hủy hết công sự phòng ngự của bọn ta. Biên Hoang Tập tuy đặt trên bình nguyên bờ Tây Dĩnh Thủy, nhưng địa thế vẫn có chỗ cao chỗ thấp, càng gần mặt Tây địa thế càng cao, cho nên hồng thủy xông tới, nháy mắt là lùi ngay. Ta có lòng tin nếu y theo phương pháp của tôi, có thể ngăn trở thủy thủy công của địch nhân”.

Tiểu Thi nhẹ nhàng hỏi: “Trận mộc lôi thích không còn chỗ dùng tới sau?”.

Bàng Nghĩa biểu hiện vẻ anh hùng khí khái trước mặt Tiểu Thi, ngang nhiên nói: “Thứ Bàng Nghĩa ta cực khổ chặt đẽo, sao lại lãng phí hết dễ dàng vậy. Ta sẽ đem một số mộc lôi thích bố trí ở tuyến ngăn nước, địch nhân không đến thì thôi, đến tất phải chịu lỗ. Chỉ cần sau đê ngăn nước dựng tháp cao, cài cơ quan bắn tên, địch nhân chưa kịp ăn đã phải bỏ chạy rồi”.

Trác Cuồng Sinh kêu lên: “Có thể nào trong thời gian một đêm hoàn thành công trình to lớn như vậy chứ?’.

Bàng Nghĩa nói: “Cắt đứt dòng nước cũng là công trình lớn không phải trong một đêm là có thể làm được, để bọn ta so bì nhân lực vật lực với địch nhân một phen. Hừ! Hoang nhân vĩnh viễn không nói khuất phục đầu hàng”.

Kỷ Thiên Thiên hồ hởi: “Như vậy phải nhọc Bàng lão bản lo!”.

Bàng Nghĩa ngây người: “Ta cần động dụng tất cả nhân thủ có thể kéo ra mới được, một lệnh tiễn có thể làm không?”.

Trác Cuồng Sinh cười nói: “Để ta theo ngươi làm gan thì sao? Có thể thuận đường thông tri cho đại tướng các nơi của bọn ta, để bọn họ an tâm”.

Kỷ Thiên Thiên vội nói: “Còn lại lột mình người ta, làm sao ứng phó được?”.

Trác Cuồng Sinh cười dài: “Tiểu thư xin yên tâm, có chuyện gì mà nàng ứng phó không được chứ?”.

Nói xong bương bả đi xuống với Bàng Nghĩa.

o0o

Thác Bạt Nghi nhìn hai chiếc Song đầu thuyền thụ thương của Tống Mạnh Tề thuận dòng chạy thoát, vẫn chưa biết được Trực Phá Thiên đã bị Mộ Dung Thùy giết, cho dù không công hiệu phải lui, trong lòng vẫn bội phục thuật thủy chiến siêu trác và dũng khí của Tống Mạnh Tề.

Y một đời cao ngạo, ít xem trọng người nào, không để người Hán vào mắt. Bất quá Tống Mạnh Tề với tráng cử dùng hai chiếc thuyền chính diện khiêu chiến toàn quân đối phương làm cho y thầm nghĩ đổi lại là mình cũng vị tất gan dạ như vậy, cho nên không khỏi có cái nhìn khác đối với Tống Mạnh Tề.

Đinh Tuyên đến bên y, thấp giọng: “Thế lửa lan về hướng Đông Nam. Cây cối trong vòng nửa dặm ngoài Biên Hoang Tập tuy đã bị chặt sạch, nhưng khói đậm theo gió bay về phía Nam, ít nhiều gì cũng có ảnh hưởng tới Biên Hoang Tập.

Thác Bạt Nghi chú tâm chú ý xem động tĩnh của liên quân Hoàng Hà bang và Mộ Dung Thùy, Phá lãng thuyền bị hỏa thiêu chiếc chìm chiếc giải thể, sương khói dần dần tan mỏng.

Đinh Tuyên dõi theo mục quang của y, giật mình: “Mộ Dung Thùy đang chơi trò gì vậy?”.

Mười mấy tổ kỵ binh, mỗi tổ cỡ một trăm quân, từ từ phóng ra khỏi trận địch đến vùng tiền phương, tựa như đang đợi chờ chỉ lệnh.

Kỵ binh bờ bên kia bắt đầu phân tán tiến lên, bộ binh vẫn còn đang im ắng.

Cái kỳ quái nhất là chiến sĩ Hoàng Hà bang lại dời thoái ra sau, từ vùng trước nhất chuyển về vùng hậu phương.

Sự điều động binh viên của địch nhân tạo cảm giác thần bí, thật điên đầu.

Thác Bạt Nghi thần sắc ngưng trọng: “Hồi nãy Mộ Dung Thùy không phái người truy kích Tống Mạnh Tề, ta đã sinh ra dự cảm bất tường”.

Đinh Tuyên nói: “Có lẽ Mộ Dung Thùy khám phá thủy đạo có phục binh, hoặc bị hỏa du đạn hù sợ. Sau khi trùng chỉnh trận thế mới theo thủy đạo xuống Nam”.

Thác Bạt Nghi lắc đầu: “Chắc không đơn giản như vậy, theo ta thấy Mộ Dung Thùy muốn cải biến sách lược, tạm hoãn công đả Biên Hoang Tập, đợi nắm chắc quyền khống chế tuyệt đối vùng thượng du Dĩnh Thủy rồi mới toàn diện phát động công thế”.

Đinh Tuyên hỏi: “Y không phải có ước hẹn với Tôn Ân giờ phút tiến công Biên Hoang Tập sao?”.

Thác Bạt Nghi đáp: “Cái trọng yếu nhất của chiến tranh là nắm được thắng lợi tối hậu, theo thế mà biến hóa là quy luật thông thường chứ không phải ngoại lệ. Ài! Diệu kế của bọn ta đánh lén đằng sau lưng địch sợ rằng không còn làm được nữa, phóng hỏa đốt rừng trái lại còn giúp đối phương phần nào, lập tức triệt thoái tất cả bố trí”.

Đinh Tuyên lãnh mệnh ra đi.

Thác Bạt Nghi thầm thở dài. Mộ Dung Thùy không hổ là kỳ tài phương Bắc, sự linh hoạt trong ứng biến sợ là trong thiên hạ chỉ có một mình Thác Bạt Khuê mới có thể so bì. Nhưng nếu luận thực lực, hai người cách xa quá xa. Nếu để Mộ Dung Thùy nắm được quyền khống chế Biên Hoang Tập, lợi dụng tài lực vật lực của Biên Hoang Tập dùng thanh thế cuồng phong quét lá công hãm Lạc Dương và Trường An, phương Bắc không còn lực lượng nào có lực đối kháng nữa. Lúc đó con đường duy nhất giữ mạng Thác Bạt tộc bọn họ là chạy vào đại thảo nguyên, không còn biện pháp nào khác.

Thác Bạt Nghi y hiện tại nên làm sao?

Mộ Dung Thùy tại sao lại muốn người của Hoàng Hà bang ở lại giữ mộc trại? Lẽ nào đã nhìn ra ý đồ đánh lén của mình?

Tiếng tù vang lên.

Kỵ đội của địch nhân tập hợp lại tiền phương lần theo Dĩnh Thủy tràn tiến tới chỗ bọn họ ẩn thân, đằng sau còn có một đội bộ binh cả ngàn người đi theo, rõ ràng muốn dẹp sạch phục binh trên đường.

Tới khi Mộ Dung Thùy hoàn thành bố trí, trên thượng du Dĩnh Thủy tất cả những đường sông chính và sông nhánh đều có chiến sĩ bên địch canh phòng, một dải dọc bờ cũng nằm dưới sự giám thị của địch nhân. Lúc đó Mộ Dung Thùy có thể thong dong dụng binh đánh Biên Hoang Tập, Biên Hoang Tập sẽ bị hãm vào cục diện chịu đòn tử thủ.

Ánh đuốc của địch nhân chiếu sáng như ban ngày suốt mấy dặm đằng trước, cho dù y và Tống Mạnh Tề có dũng khí đánh lén, nhưng thế này có khác nào lấy trứng chọi đã, tự tìm đường chết.

Vốn trước đây y nghĩ Mộ Dung Thùy sẽ toàn tốc hành quân, y liền có thể thừa cơ. Hiện tại mộng đẹp không thành, với tài trí của y, nhất thời cũng phải rối loạn tâm thần, tiến thoái lưỡng nan.

Sự tiến quân của địch nhân vừa từ từ vừa ổn định, mỗi khi đến chỗ cao bên bờ sông, có người ở lại canh phòng. Chiến thuật như vậy, rõ ràng là muốn kiến lập tuyến phòng ngự, rầm rậm tiến tới.

Đinh Tuyên lại về đến bên cạnh y, kinh hãi nói: “Bọn ta nên làm sao?”.

Thác Bạt Nghi nhớ đến Yến Phi, nghĩ đến Biên Hoang Tập, miễn cưỡng đè nén ý tưởng tự lo cho bản thân, trầm giọng: “Nếu ngươi là ta thì sẽ làm sao?”.

Đinh Tuyên cười khổ: “Tôi có lẽ chạy thật xa. Sự thật đã chứng mính trong thiên hạ không có một tòa thành trì nào Mộ Dung Thùy công không nổi, huống hồ là Biên Hoang Tập không có tường thành”.

Thác Bạt Nghi hỏi: “Vậy có khác gì ta biến thành kẻ hèn bất nghĩa?”.

Đinh Tuyên nói: “Bọn ta có thể phải người về thông tri tình hình này cho Yến Phi và Hạ Hầu tướng quân, để bọn họ sớm chuẩn bị. Bọn ta đi vòng ra sau trận địch, kiếp cơ hội đánh lén, có lẽ có cơ hội thành công, còn hơn là triệt thoái về Biên Hoang Tập chờ chết”.

Thác Bạt Nghi lắc đầu: “Đi vòng ra sau địch tuyệt không thể làm, địch nhân sẽ phong tỏa phương viên mấy dặm, khó mà đến gần được. Nếu muốn tránh một bên chờ cơ hội hành động, chỉ có triệt thoái lên vùng đất cao bên Tây, trong rừng cao giám sát tình huống bên dưới”.

Đinh Tuyên gật đầu: “Cũng là kế có thể làm”.

Thác Bạt Nghi cười khổ: “Ý tưởng đó dụ hoặc vô cùng, nhưng ta lại không có nào chọn con đường minh trí đó. Biên Hoang Tập không cho phép đánh mất, huống hồ huynh đệ tốt nhất của ta đang ở trong Biên Hoang Tập”.

Đinh Tuyên cúi đầu: “Tất cả nghe theo sự phân phó của Nghi soái”.

Thác Bạt Nghi song mục thần quang bắn như ánh chớp, từ từ gằn từng tiếng: “Ta đã quyết định cùng tồn vong với Biên Hoang Tập, Thác Bạt Nghi ta thà tử chiến trên sa trường, cũng không muốn làm kẻ đào ngũ trốn tránh trọn đời”.

Đinh Tuyên hiện thần sắc tôn kính: “Đinh Tuyên thề chết nghe theo lệnh Nghi soái”.

Thác Bạt Nghi mục quang quay sang mấy chục con rồng lửa đang ép gần trong vòng nửa dặm, mỉm cười: “Trận chiến giữa bọn ta với Mộ Dung Thùy sẽ bắt đầu ở Biên Hoang đêm nay. Đây là số mệnh không có cách nào sửa đổi của hai tộc bọn ta! Ai thắng ai bại, để ông trời quyết định”.

Vỗ vai Đinh Tuyên, sải bước ra đi.