BÃO TÁP CUNG ĐÌNH

CHƯƠNG 28

Lệ thi Thái Học Sinh vừa được vua ban năm trước. Năm sau mở khóa thi đầu tiên theo lệ mới. Sĩ tử cả nước nô nức đua tài để vào mùa xuân này đọ sức. Nghe nói khoa này sẽ lấy tam khôi(1), và nhà vua đích thân chấm, chọn các bậc tiền tài cho đất nước.

Vừa ăn tết xong, kinh thành Thăng Long còn chưa tan hết khói pháo, sĩ tử các nơi đã dập dìu kéo nhau về quốc học viện để dự các buổi bình văn. Một bữa nọ, Thái tôn ghé qua nhà Quốc tử giám, mới từ cổng nhìn vào đã thấy đám nho sinh ngồi la liệt chật sân, vẫn còn phải đứng ém trong góc vườn để nghe quan tư nghiệp thuyết giảng. Nhà vua nhìn đám sĩ tử đông nghịt, chen chúc nhau, nhưng vẫn im phăng phắc, lòng ngài vui như mở hội - Đây là dấu hiệu của thời thịnh. Giọng quan Tư nghiệp quốc tử giám sang sảng: “… Cái phần chiêu minh ở trong người ta gọi là tâm. Tâm là cái thần minh ở trong vạn vật, là cái tia sáng của Trời phú cho ta để hiểu biết các sự vật. Vũ trụ sở dĩ có là bởi có cái tia hồi quang ấy, chứ không thì dẫu có cũng như không mà thôi. Người ta có cái phẩm giá tôn quí, là cũng nhờ có cái tâm. Cho nên hễ bỏ cái tâm đi, thì vũ trụ chỉ là một khối vật chất vô giác. Bởi vậy, người ta phải giữ cho cái tâm được trong lặng. Tâm có trong lặng thì mới mẫn nhuệ mà cảm ứng được các điều thiện, ác để hành hóa việc người cho hợp với thiện đạo của Trời…” Thái tôn rất bằng lòng với lời thuyết giảng của quan tư nghiệp, về lẽ hằng mà đức Khổng Tử đã từng rao giảng trên thế gian, cách đây từ mấy ngàn năm trước.

Có người vào bẩm, đức vua ngự giá tới thăm quốc học viện. Quan quốc tử giám tế tửu lập cập từ nhà học đường chạy ra, rập đầu lạy tạ, xin nhà vua tha tội.

Thái tôn ôn tồn nói:

- Quan tư nghiệp hãy bình thân. Mau trở lại tiếp tục cuộc bình văn. Ta rất vui, thấy sĩ tử cả nước đã sớm về kinh tụ hội, mặc dù còn lâu mới tới hạn kỳ thi tuyển. Nhìn đám nho sinh trong sân quốc tử giám, lại nhìn quan tế tửu với vẻ ái ngại, nhà vua nói.

- Quốc tử giám chật quá! Chật quá! Để các sĩ tử đã về kinh đều được nghe giảng trước ngày thi, ta sẽ cho mở cửa Chiêu Văn quán, Sử quán, Tập Hiền viện để các quan vào đấy bình văn, các sĩ tử chia nhau đi nghe giảng. Ngay cả toà Ngự Diên, ta cũng cho mở cửa, đích thân ta sẽ bình giảng. Nói rồi nhà vua quay đi. Khuôn mặt ngài ngời sáng như lấp lánh ánh hào quang.

Thăng Long rét muộn. Sau lễ thượng nguyên(2) rồi mà trong các ngõ xóm, các vườn nhà, đào, mai vẫn còn phô sắc thắm. Nhất là trong vườn ngự uyển, thôi thì đủ sắc đủ hương, trăm hồng ngàn tía. Đào phai, đào thắm xen lẫn hồng trà, bạch trà, hải đường. Lại có cả hoàng mai, bạch mai điểm xuyết một cách kín đáo nhưng không kém phần rực rỡ. Và kìa, những khóm quất, quả còn sai trĩu trịt, thắm một màu vàng. Nhưng các cành nhánh lại bật nở những nụ hoa trắng phau như những hạt bỏng thoang thoảng đưa hương. Hương quất, hương bưởi, hương nhài, hương lan… cùng các loại hoa thơm khác hoà quyện với nhau. Và gió đem mùi thơm đi khắp kinh thành.

Quan đại an phủ sứ của kinh sư khuyến cáo dân chúng kinh kỳ dọn dẹp đường phố, sửa sang tư thất để đón khách bốn phương.

Người Thăng Long vốn hiếu khách, nên nhà nào có máu mặt một tí đều lo chăng đèn, kết hoa, sửa sang nhà cửa. Thật ra thì cũng không phải sửa sang gì cho lắm. Bởi mới tết ra, nhà cửa còn sạch gọn. Chỉ cần treo lại cây đèn lồng. Soạn sửa lại phòng văn. Các đồ văn phòng tứ bảo còn thiếu gì mua sắm thêm. Mực, son, giấy, bút lông thỏ. Mua sắm sẵn đấy cho lịch thiệp thôi, chứ các nho sinh đã về kinh, thì họ cũng đem theo đầy đủ cả. Phố phường chỗ nào cũng rực sáng ánh đèn ban đêm, tấp nập người qua lại ban ngày. Hết giờ bình văn, các sĩ tử từ các cửa Đại Hưng, cửa Diệu Đức, cửa Tường Phù, cửa Quảng Phúc trong hoàng thành tỏa ra phố phường đông nghì nghịt. Đông nhất vẫn là các phố Hàng Giấy, Hàng Bút. Các cửa hàng đua nhau trang hoàng rực rỡ. Các cô gái ngồi bán hàng duyên dáng chào mời các quan trạng, các tiến sĩ tương lai. Trong số các sĩ tử ấy, chắc chắn sẽ có người đoạt tam khôi. Bảng vàng, bia đá, danh thơm muôn đời. Các cô gái ngồi sau những quầy hàng kia, trong lòng cô nào chẳng thầm mơ ước mình lọt vào mắt xanh của các vị đại khoa, mà tương lai chẳng còn xa xăm gì nữa. Các phố Hàng Vải thâm, Hàng Khăn lúc nào cũng nườm nượp người vào ra mua sắm. Nhưng đông hơn cả vẫn là phố chợ Cầu Đông(3). Đây vốn là một phố buôn bán sầm uất, trên bến dưới thuyền. Đây cũng là phố có nhiều nhà trọ, hàng quán. Suốt từ sáng sớm đến tối khuya, không lúc nào qua đây không thấy mùi thơm xào nấu, mùi thịt nướng, thịt quay … Tiếng cười giòn giã, tiếng chào mời chèo kéo, tiếng í ới gọi nhau lên đò, xuống đò. Tiếng xe ngựa rậm rịch. Vắng nhất trong các phố phường vào những ngày thi cử, là phố Hàng Lọng. Các sĩ tử không một ai ló mặt qua đây. Vì ai cũng sợ lỡ ra, các chủ hàng mời mua lọng, thì thật là xui. Bởi vậy, Hàng Lọng các nhà đều đóng cửa im ỉm. Nhưng đằng sau những khuôn cửa đóng kín kia, các tay thợ, các gia nhân làm túi bụi ngày đêm không hết việc. Và tới khi kéo bảng để danh rồi, các nhà ở đây đều mở tung cửa đón khách. Tới lúc này, lại không một phố nào lộng lẫy và đông vui bằng phố Hàng Lọng. Vì rằng các quan trạng, thám hoa, bảng nhãn… một khi đã nhận ÂN TỨ VINH QUI(4) ai chẳng phải mua cho mình một chiếc lọng, để về bái tổ gia hương.

Tháng hai, hoa xoan nở tím cả kinh thành, muỗm đã kết trái xanh non. Hoa chanh, hoa bưởi vẫn còn ngan ngát hương thơm. Người tứ xứ kéo về kinh thành đông nghẹt. Lều chõng, gánh gồng, bầu, níp giăng giăng. Tới lúc này sĩ tử đều phải có mặt hết ở kinh sư, để độ mươi ngày nữa là khoa thi bắt đầu. Dân kinh thành náo nức mong chờ xem quan trạng đầu tiên sẽ là ai. Và người ấy tài giỏi đến mức nào. Tin đồn đích thân hoàng thượng sẽ chấm các bài xuất sắc nhất để chọn tam khôi, càng làm cho kinh thành chộn rộn lên cái không khí của hội đua tài.

Túa về kinh sư đủ thứ đủ hạng người. Nào văn nhân, sĩ tử. Nào nhà buôn. Nào các giáo phường. Sĩ tử cũng chia làm năm bảy hạng. Người giàu có thì ngựa xe, võng cáng, kẻ hầu người hạ. Người bậc trung thì tiểu đồng quẩy theo tay nải áo quần, bút nghiên. Người nhà gánh gạo, gánh chõng lều, lốc thốc đi theo. Đến như những người nghèo túng lại rớt mấy khoa thi trước, tuổi vừa cao, vừa gò lưng gồng gánh tất cả các thứ, như một cái ngựa thồ.

Đất Thăng Long văn vật, đón nhận một cách hào phóng sĩ tử từ bốn phương về dự tuyển. Quan đại an phủ sứ của kinh sư đã cho dựng mười hai dãy nhà ở phía sau Quốc tử giám, để đón nhận và cung phụng những hàn sĩ không đủ tiền vào nhà trọ. Lại sức cho các nhà hàng quán trọ, không được tăng giá tiền ăn tiền trọ, đối với các sĩ tử và thân nhân. Tuy vậy, nhiều nhà phú hào, nhà buôn, vừa mang tính hào phóng đất kinh sư, vừa thầm mong phúc ấm lại có một vị đại khoa nào đó đoái tưởng đến con gái mình, thường ra đường chào đón, mời gọi các hàn sĩ về nhà mình trú tạm. Trong suốt thời gian nho sinh lưu trú tại các tư gia ấy, đều được đón tiếp, phục dịch thật là ưu hậu, thật là nồng nhiệt, với tất cả sự hào hoa của đất kinh sư văn hiến.

Khoa thi này nhà vua đích thân kiểm xét các mặt, nên các quan từ sở tại cho tới các đài, sảnh, viện, các… đều lo chạy xốn xáo, cốt sao mọi việc thật chu toàn trước khi hoàng thượng ngó tới. Quan chánh chủ khảo đã cho nhóm họp các thuộc lại tới ba lần. Nói rõ các chức phận của từng người, từ viên Di phong(5), Khảo tự hiệu(6), Đằng lục(7) đến các quan Thí viện(8), Khảo viện(9) ai nấy đều phải thuộc nằm lòng các phần việc được giao phó.

Không khí văn vật trùm phủ khắp đất Thăng Long. Không một người dân nào không mong có dịp được làm một nghĩa cử, đối với các tao nhân mặc khách, từ muôn phương về kinh sư tụ hội. Nhiều nhà sáng sớm đã nấu nước chè khiêng ra đầu đường, để khách qua lại tiện dùng. Không thiếu các nhà ngày nào cũng làm sẵn dăm bảy mâm cơm, để nếu có khách quen, khách lạ ghé vào là có thức ăn ngay. Khách bốn phương, ai gặp khó khăn thiếu thốn gì, chưa kịp bầy tỏ hết lời, đã được bà con phường phố sẵn sàng đáp ứng. Người Thăng Long vốn hào hoa như thế đấy.

Được tin bữa nay nhà vua sẽ giảng kinh sách tại toà Ngự Diên(10), từ sáng sớm sĩ tử đã nườm nượp kéo nhau vào ngồi kín từ trong nhà tới ngoài sân.

Kiệu vừa hạ xuống trước toà Ngự Diên, người ngồi chật cứng từ cổng không có lối vào. Quân thánh dực thét ầm ầm, lính hổ bôn xông vào đám đông ra roi định dẹp. Thái tôn vội ra hiệu cho viên đô giám bắt lính ngừng tay. Nhà vua ôn tồn bảo viên đô giám:

- Các ngươi không dạy quân phải biết giữ lễ với kẻ sĩ. Có biết những người này là như thế nào không? Nhà vua chỉ về phía sĩ tử hỏi, và nhìn viên đô giám với vẻ trách móc - Họ là tinh hoa của đất nước, là bộ óc của cả dân tộc. Mai đây họ sẽ là những người nắm giữ các trọng trách quốc gia mà lũ ngươi dám coi thường, thét mắng như một đám ăn mày. Không nể, vì có giới sĩ phu cả nước về đây, ta phải cho treo cổ ngươi, để làm gương cho những đứa càn dỡ dám coi thường kẻ sĩ. Nói rồi Thái tôn đi vào toà Ngự Diên. Sĩ tử dẹp lối cho nhà vua đi, và mọi người đồng thanh hô: “Hoàng thượng thiên tuế! … Thiên tuế…!”

Thái tôn vừa ngồi vào chiếc ghế cao trên toà giảng, ngài đưa mắt nhìn khắp một lượt từ trong nhà ra ngoài sân. Phần đông họ là những người trai tráng, mặt mũi khôi ngô tuấn tú. Những gì suy nghĩ hoặc lo toan đều hiện hết trên các khuôn mặt. Nhà vua có thể đọc tâm tư họ như đọc các trang tạp biên thực lục(11). Nhìn kỹ, nhà vua thấy có những ông già râu tóc bạc phơ. Loáng thoáng có cả mấy đứa trẻ chỉ trên mười tuổi. Thái tôn lấy làm lạ. Ngài tự nghĩ: “Tài năng gì mà đám trẻ chưa ráo đầu máu đầu kia cũng dám chen vào đây?”. Rồi ngài tự trả lời: “Hẳn là chúng phải vượt được các kỳ thi hương, thi hội rồi quan trường mới cho vào đây chứ. Ôi, nếu quả bọn trẻ kia thật sự có tài thì phúc cho nước nhà lắm lắm”. Nhà vua sung sướng tự hỏi: - “Thời thịnh chăng”- “Thần đồng xuất hiện chăng?”.

Bắt đầu buổi thuyết giảng của mình, Thái tôn không đi hẳn vào một kinh sách nào cả. Vì việc đó, sĩ tử đã nghiền ngẫm thấu đáo. Nhà vua chỉ hỏi xem, có ai còn mắc vướng điều gì chưa hiểu trong năm kinh(12), bốn sách(13), ngài sẽ giảng giải cho. Tức là nhà vua chỉ giải đáp kinh nghi(14) mà thôi. Điều đó, đủ nói kiến thức của nhà vua đã đạt tới chỗ uẩn ảo lắm, thâm viễn lắm.

Suốt một ngày dẫn dụ xong, nhà vua ôn tồn nói:

- Ta vui mừng vì sĩ tử cả nước đều cố công rèn rũa đạo học, ngõ hầu đem tài trí ra phụng sự quốc gia, dân tộc. Để tỏ rõ sự khuyến khích của triều đình đối với sĩ tử. Bắt đầu từ khoa này, nhà nước sẽ lấy tam khôi. Đích thân ta chấm, chọn. Ngoài ra, cứ theo tài năng xếp thứ bậc cho đỗ vào hàng thái học sinh(15). Thái tôn vừa nói tới đây thì thấy sĩ tử có vẻ nhớn nhác nhìn ra ngoài. Nhà vua cũng đưa mắt, chợt thấy Quốc Tuấn và theo sau là công chúa Thiên Thành đang bước vào nội thất. Nhà vua tự hỏi: “Quốc Tuấn đi nghe bình văn đã đành. Lại em gái ta cũng yêu thích thi thư? Thật là một sự lạ. Sự lạ”.

Quốc Tuấn từ khi về kinh, nổi danh là một trang tuấn kiệt. Tài kiêm văn võ. Sáu tuổi chàng đã biết làm thơ. Nay thì lục thao tam lược, không gì là không thông hiểu. Sĩ tử nghe danh Quốc Tuấn đã tỏ lòng ngưỡng mộ từ lâu. Nay được diện kiến, làm gì mà chẳng xôn xao. Chàng có dáng người cao, to. Khuôn mặt vuông vức. Mắt sáng như sao. Cặp mắt to hơi xếch. Lông mày rậm. Nước da sáng lúc nào cũng hồng hào. Môi đỏ như tô son. Quốc Tuấn có giọng nói sang sảng vang ấm như tiếng chuông. Lời nói đanh gọn. Toàn bộ người chàng toát lên một vẻ uy nghi đường bệ, nhưng lại có sức hấp dẫn lạ lùng. Chàng đi tới đâu, từ trẻ đến già đều mến mộ. Nhất là các cô gái con các đại gia, thầm ước ao được gần gũi. Từ khi chàng về ở với công chúa Thuỵ bà, công chúa Thiên Thành tuy sống trong nội điện, nhưng thường lui tới viếng thăm. Hai cô cháu quyến luyến nhau lắm. Thiên Thành tuy là cô ruột, nhưng lại là con út của thượng hoàng Trần Thừa. So ra còn thua Quốc Tuấn tới vài ba tuổi. Thiên Thành đang độ tuổi cập kê, nhan sắc nàng rực rỡ như một đóa phù dung. Bữa nay nàng mặc áo thụng thắt đai ngọc, may bằng thứ nhiễu Hàng Châu màu hồng nhạt, tóc đen mềm mại buông xoã hai bờ vai. Quần màu thiên thanh. Chân dận hài nhung màu tím nhẹ, nạm hạt châu lấp lánh. Cổ đeo vòng ngọc bích nạm vàng. Nom nàng như một đóa hoa biết đi. Nàng tới đâu là hương thơm dìu dịu tỏa ra. Cứ như mùi thơm tho ấy toát ra từ da thịt nàng. Hiện thời nàng là bông hoa rực rỡ nhất kinh thành. Nghe đâu bên nhà Nhân Đạo vương, đã đánh tiếng với hoàng thượng xin nàng về cho Trung Thành vương(16). Giới sĩ tử không những hâm mộ sắc đẹp của công chúa Thiên Thành, mà còn ngưỡng mộ Quốc Tuấn, ai cũng mong được gần gũi, được kết bạn với chàng.

Khi thấy đám sĩ tử đã ngồi yên, Quốc Tuấn, Thiên Thành cũng chăm chú nhìn về phía nhà vua, Thái tôn lại tiếp:

- Ta mong sĩ tử cả nước hãy gắng gỏi lên. Mùa thu này ta sẽ mở thêm khoa thi tam giáo. Ai đỗ, cho xuất thân(17). Ta nghĩ rằng Đạo học của nước ta dựa trên căn bản của tinh thần tam giáo. Phải biến cái tinh tuý của cả ba đạo lớn đó cùng với nền văn hoá truyền thống của nước ta thành một Chính đạo, một Thiệân đạo của Đại Việt. Các quan chức nắm giữ bộ máy nhà nước của ta, không thể không thông hiểu tam giáo. Nói xong nhà vua xuống đàn. Sĩ tử lại toả ra khắp nơi về nhà trọ.

Khi mặt trời lên tới đỉnh đầu, quan đề điệu cho đọc thể lệ trường qui, để hôm sau sĩ tử vào cuộc đua tài. Cả kinh thành bừng lên không khí của ngày hội…

Qua kỳ thi, Khảo viện lọc tất cả được bảy quyển ưu nhất, đệ trình lên hoàng thượng chọn lấy tam khôi. Cân nhắc suốt hai ngày đêm, Thái tôn lựa được ba quyển mà nhà vua cho là ưu việt nhất, và đã khuyên vào đó các chữ Nhất - Nhị - Tam.

Sợ rằng việc chọn lựa của mình có phần chưa chuẩn mực lắm, nhà vua cho Khảo viện minh xét lại một lần nữa. Các quan giám khảo, đồng giám khảo sau nửa ngày phân giải đều cho rằng sự thẩm định của nhà vua là sáng suốt.

Sau buổi kéo bảng đề danh, các tân khoa được vào điện Thiên An diện kiến hoàng thượng.

Trước cửa điện, quan đề điệu lại xướng từng tên. Bắt đầu từ trạng nguyên.

Tiếng quan đề điệu vang vang:

Nguyễn Hiền(18) – trạng nguyên. Quan đề điệu xướng đến lần thứ ba, thì có một cậu bé mặt mũi khôi ngô bước vào thềm điện.

Thái tôn sửng sốt nhìn cậu bé đi vào, với dáng đi chững chạc.

Quan đề điệu xướng tiếp:

- Lê Văn Hưu(19), bảng nhãn.

Một chàng trai tuấn tú, mà còn đậm lông tơ, bước tiếp theo quan trạng.

Lại xướng:

- Đặng Ma La(20) thám hoa lang.

Một cậu bé mặt đẹp như một viên ngọc minh châu bước tiếp theo tân khoa bảng nhãn.

Không những nhà vua mà cả Khảo viện đều không tin ở mắt mình nữa. Thái tôn sau một phút bàng hoàng, nhà vua tự nghĩ: “Đây là trời cho các thần đồng xuống giúp nhà Trần”.

Hoàng thượng sung sướng bước ra khỏi ngai vàng, đích thân ban áo mũ cho quan trạng, bảng nhãn, thám hoa lang.

Không lường trước được lại có hai cậu bé trúng tam khôi, nên áo mũ thuần may sắm cho người lớn. Thành thử quan trạng và thám hoa lang chỉ một chiếc áo đã trùm phủ quá người, rộng thùng thình, còn mũ thì trống trếch trùm sụp xuống cả mặt. Hỏi ra quan trạng Nguyễn Hiền mới có mười ba tuổi. Và thám hoa lang Đặng Ma La, mười bốn tuổi.

Tin đồn chiếm tam khôi kỳ này là ba cậu bé phút chốc bay khắp kinh thành. Dân chúng phố phường đất Thăng Long đổ ra đường để ngóng đợi phút đi dạo của các đại tân khoa, đáp lễ dân chúng kinh kỳ(21). Tin bay đến phủ thái sư. Phu nhân lòng khấp khỏi mừng vui. Bà muốn nhìn tận mắt sự lạ, bèn lên kiệu đi liền. Kiệu của phu nhân vừa tới cổng điêïn Thiên An thì quân cấm vệ ra ngăn lại. Bọn thị nữ và lính hầu phủ thái sư lập tức tiến lên đẩy tên lính ra. Rồi cả đoàn cả lũ cứ nhao nhao sỉ vả tên lính.

- Đồ ngu, mày không biết kiệu của ai mà giám cản.

- Đồ súc sinh dám phạm thượng.

- Chúng tao mà bắt mày về phủ thái sư thì mọt gông con ạ.

Mặc cho bọn người hầu phu nhân ra sức chửi mắng, người lính cấm vệ vội chạy ra kéo sợi dây hạ lá chắn cổng xuống. Tiện tay giật tiếng chuông. Phu nhân tỏ vẻ bực tức ló ra ngoài kiệu quát mắng.

- Lũ kia! Khôn hồn mở cửa cho kiệu của quốc mẫu vào điện diện kiến hoàng thượng!.

Đúng lúc đó viên quan đô giám nghe tiếng chuông đã chạy bổ ra xem xét. Y nghe rõ tiếng thét mắng giận dữ của quốc mẫu. Y cho quân kéo lá chắn lên rồi phủ phục trước kiệu và nói lớn.

- Tâu lệnh bà. Chúng con không giám trái ý lệnh bà. Nhưng thân vệ tướng quân đã ra lệnh cho chúng con, cổng chính này chỉ có kiệu thiên tử đi qua. Còn kiệu các quan đi cổng bên. Con xin mở liền để kiệu lệnh bà qua ngay bây giờ. Nói rồi viên đô giám tự mình săm săm đi mở cửa ngách.

Khi giận bốc lên, mặt đỏ phừng phừng, phu nhận lại quát:

- Lũ sâu bọ to gan lớn mật. Quân bay khiêng kiệu vào chính môn.

Thấy tình thế nguy ngập. Bên ngoài thì lính phủ thái sư nhao nhao xô đẩy. Chỉ còn vài bước nữa là họ dẫn kiệu qua chính môn. Ngặt vì trong điện Thiên An, nhà vua đang ban mũ áo cho các vị đại khoa, nên không thể kéo chuông cấp báo. Viên đô giám liều mạng đứng chắn trước cổng, kiếm tuốt trần, giọng đanh thép, y nói:

- Ta phụng quân mệnh, trấn giữ cửa này. Ai muốn vào phải bước qua xác ta. Đám thị nữ và lính tráng phủ thái sư thấy y lăm lăm tay kiếm, mặt đỏ như gấc, mắt nhìn nảy lửa, đều có ý chờn không dám tiến nữa.

Phu nhân lửa giận bừng. Song bà tự biết là quân cấm vệ không cho qua. Bà muốn mách với thái sư bắt quân kia về trị tội cho bõ giận.

Ném vào mặt tên đô giám một cái nhìn khinh bỉ, phu nhận thét quân: - Lui!

Vừa thấy phu nhân ra đi, nay đã ầm ầm trở lại, thái sư vội ngó ra xem. Phu nhân vội vàng xuống kiệu săm săm đi vào. Trần Thủ Độ ân cần hỏi:

- Thế nào, bà đã có gì ban thưởng cho quan trạng chưa?

Dường như chỉ chờ có thế. Phu nhân oà khóc. Vừa khóc vừa đay nghiến:

- Giời ơi, tôi là vợ ông thái sư thống quốc. Tôi là mẹ vợ, là cô của đức vua. Nhà vua lại ban tặng cho tôi là quốc mẫu. Thế mà cả ông thái sư, cả đức vua để cho bọn lính nó làm nhục vợ mình, làm nhục quốc mẫu của mình.

Trần Thủ Độ không biết đầu đuôi câu chuyện ra sao, còn đang ngơ ngức, phu nhân lại thét gào:

-Ôâng thái sư thống quốc ơi, tôi giả ông tất cả. Tất cả cơ nghiệp này, tôi về làng. Cái làng Ngừ của tôi, đứa nào hỗn xược, tôi vặn cổ. Chứ cái triều đình của ông láo nháo lắm.

Trần Thủ Độ đã thấy nóng nóng phía vành tai. Ông gọi bọn thị nữ, lính kiệu đến hỏi. Chúng thuật lại đầu đuôi câu chuyện vừa xảy ra, cũng có thêm thắt chút ít. Cốt là để mượn oai thái sư trị bọn lính cấm vệ dám hỗn hào, dám coi thường bên phủ thái sư. Từ trước, bọn lính hầu bên phủ thái sư có cái kiểu vênh váo thế. Cứ như thái sư và phu nhân là bề trên của đức vua, thì chúng nó cũng tự coi mình được ở trên bọn lính cấm vệ một bậc.

Nghe xong thái sư hầm hầm tức giận, cho đi bắt viên đô giám và tên lính cấm vệ giải về. Được tin thái sư cho lệnh bắt, thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình tự tay đóng gông mấy người đó dẫn sang phủ thái sư. Khuê Kình nói với thuộc hạ của mình:

- Sự việc có thế nào, các ngươi cứ thế mà tâu trình, không thêm bớt nghe chưa?

Mấy người thuộc hạ run sợ dạ ran. Viên đô giám khi đã bình tâm lại, liền hỏi:

- Bẩm tướng quân. Vâng lời dạy của tướng quân, chúng tôi giữ nghiêm phép nước. Sao lại nói là chúng tôi phạm tội? Sao lại đóng gông chúng tôi như một lũ tội đồ.

- Vẫn biết thế! Vẫn biết thế! Khuê Kình ôn tồn nhắc lại đến hai lần – Các ngươi phải biết phu nhân là bậc quốc mẫu, đến vua cũng phải kính cẩn. Để ta lựa lời nói với thái sư. Ta chịu trách nhiệm cả. Ta không bỏ các người đâu mà lo. Nhưng cũng phải biết cái thế của mình.

Tới phủ thái sư. Khuê Kinh vào bẩm và xin nộp mấy viên thuộc hạ. Khuê Kinh nói:

- Bẩm đức ông, tiểu tướng thật có tội với đức ông.

Trần Thủ Độ vẫy tay cho tất cả vào thềm điện và sai mở gông cho mấy người lính. Đoạn ông nói:

- Khi chưa xét xử ngay gian, chưa biết người ta có tội hay không có tội, sao tướng quân lại đóng gông họ như là kẻ tội phạm?

Bọn lính tráng và thị nữ phủ Thái sư lúc nãy bị chặn lại, giờ đang lấp ló ở ngoài dè bỉu:

- Cho chúng mày chết.

- Chúng mày cứ là mọt gông con ạ.

- Mất đầu con ạ.

Nghe tên lính cấm vệ và viên đô giám thuật lại với thái độ kính cẩn và run sợ, ăn năn, Thái sư đã thấy dìu dịu. Trần Thủ Độ bèn phái người tới Đăng văn viện(22), gọi kiểm pháp quan sang xét xử.

Kiểm pháp quan là một ông già đầu hói xúng xính trong bộ áo thụng đen, đầu đội mũ bình thiên, tay chống cây gậy trúc đùi gà nhẵn bóng. Kiểm pháp quan có bộ mặt xương xương, chòm râu dài tới ngực, trắng như bông. Nom quan ngài già nua lắm. Duy có đôi mắt của người là sắc sảo. Đôi mắt trong sáng lạ lùng như có thể nhìn thấu tận tim gan người khác. Đôi mắt ông bộc trực như là hiện thân của công lý. Theo ông là một viên tuỳ phái, bê trĩu tay bộ Quốc triều hình luật.

Kiểm pháp quan làm việc. Ông nói vài lời về việc mọi người từ vua tới dân, ai ai cũng phải tôn trọng luật pháp. Rồi ông cho đối chất.

Lính hầu phủ Thái sư nói trước. Thấy không khí cực kỳ nghiêm trọng, bọn này cũng không dám thêm thắt như lúc đầu trình với thái sư. Tiếp đến là lính bên phủ Thân vệ tường trình.

Kiểm pháp quan quay về phía phu nhân hỏi.

- Bẩm lệnh bà, chẳng hay đôi bên tâu bầy như vậy có đúng như sự thật đã diễn ra không?

Vẫn chưa nguôi nỗi bất bình. Phu nhân gật đầu xác nhận, và chỉ buông một tiếng: “Đúng!”

Kiểm pháp quan hỏi tên lính cấm vệ:

- Ai dạy ngươi, chính môn chỉ có kiệu thiên tử mới qua được?

- Bẩm pháp quan, thầy đô giám dạy con.

Kiểm pháp quan lại hỏi viên đô giám:

- Ai dạy ông điều ấy? Đô giám vòng tay đáp:

- Trình pháp quan, thân vệ tướng quân dạy chúng tôi. Vừa nói, viên đô giám vừa đưa mắt nhìn về phía Trần Khuê Kình.

Kiểm pháp quan vuốt chòm râu bạc gật gù. Ông từ tốn nghiêng đầu về phía Trần Khuê Kình hỏi.

- Thưa tướng quân. Sở cứ vào đâu mà tướng quân răn dạy thuộc hạ như thế?

Nghe kiểm pháp quan xét hỏi, phu nhân thấy trong lòng đã bảy tám phân hồi tĩnh lại. Bà nghĩ “Kẻ kia không biết trên dưới phải trái là gì. Nay trước cửa công, thầy trò đã phải cúi đầu. Phải, cứ lấy phép công trừng trị, bọn chúng mới mở mắt ra được, kẻo không rồi chúng lại bảo ta, thừa thế uỷ quyền”.

Bọn thị nữ và lính hầu phủ thái sư nghe pháp quan gặng hỏi thầy trò thân vệ tướng quân, trong lòng chúng như nở ra từng khúc ruột. Chúng thập thò, ngấp nghé phía ngoài đại sảnh, đứa nọ nhìn đứa kia nháy mắt, mỉm cười.

Thái sư Trần Thủ Độ lòng vẫn lặng trong. Chính ông mới là quan tòa cao nhất. Ông không muốn kiểm pháp quan vì ông mà vít cong cán cân công lý. Ông cũng không cho phép người ta đụng đến thanh danh của vợ ông. Bởi chưng, nay người ta coi thường vợ ông, thì mai sẽ đến lượt ông.

Nghe pháp quan hỏi rành rõ từng lời. Thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình đứng thẳng người với tư thế của một vị tướng liền đáp:

- Thưa ngài Kiểm pháp quan thay mặt cho pháp đình tôn nghiêm. Tôi được bề trên thường răn dạy: “Người làm việc nước phải lấy phép nước làm trọng, không được để cho tình riêng hoặc vật dục làm cho mờ tối lương tâm”. Chính vì thế, tôi đã răn dạy các thuộc hạ tôi phải giữ nghiêm phép nước. Đúng là tôi đã dạy họ như thế.

Không khí im phăng phắc mà căng như một sợ dây đàn. Kiểm pháp quan, gõ chiếc gậy trúc ba lần xuống thềm điện, rồi nói:

- Thưa tướng quân, tôi lưu ý tướng quân, khi tòa án pháp đình làm việc, là căn cứ vào luật định, chứ không phải căn cứ vào lời khuyên bảo của bề trên nữa. Một lần nữa, tôi nhắc lại:

- Xin tướng quân cho biết: Căn cứ vào đâu mà tướng quân răn dạy thuộc hạ của mình như vậy?

Thân vệ tướng quân rướn người về phía Kiểm pháp quan, nói từng lời minh bạch:

- Thưa ngài Kiểm pháp quan tôn kính, tôi căn cứ vào thiên Triều nghi trong Bộ hình thư của Quốc triều, ban hành năm Canh dần (1230) đang nằm trong tay quý quan đó.

Nghe Khuê Kình đối đáp, Trần Thủ Độ giật thót mình. Một giây sau, ông đã lại lấy điều đó làm vui. Vì rằng Khuê Kình thân làm tướng mà cũng nắm vững luật pháp. Lại biết dạy thuộc hạ, lính tráng biết giữ nghiêm pháp luật. Ông thật không mong gì hơn điều đó.

Kiểm pháp quan khi nghe Trần Khuê Kình biện bác trôi chảy, khiến ông lúng túng. Rõ ràng là tướng quân và thuộc hạ không có lỗi. Người có lỗi ở đây là phu nhân và bọn gia thuộc ỷ thế lộng hành. Ông khéo lựa lời:

- Bẩm thái sư và phu nhân tôn quý. Sự thể vậy đã rõ ràng. Thân vệ tướng quân và thuộc hạ làm đúng những điều đã ban trong “Quốc triều hình luật”. Xin thái sư thẩm định.

Nói xong, ông ý tứ rút lui khỏi bục. Viên tuỳ phái hấp tấp bê bộ hình thư lẽo đẽo theo sau.

Trần Thủ Độ miễn cưỡng đứng dậy. Mặt ông hơi ửng đỏ. Dường như có sự tự hổ thẹn về người vợ của mình, ông nói:

- Ta có lời khen thân vệ tướng quân, đã răn dạy thuộc hạ có thể thống. Phép nước vì đó được nghiêm giữ. Ta sẽ tâu xin hoàng thượng đặc cách ban cho tướng quân tước hai tư. Còn viên đô giám và tên lính kia, các ngươi ở địa vị thấp hèn cũng biết giữ nghiêm phép nước. Ta còn biết nói thế nào nữa. Gọi có một chút quà thưởng cho hai ngươi - Nói rồi, thái sư sai gia thuộc đưa vào bốn tấm lụa, hai đĩnh bạc. Phu nhân đã lủi ra từ lúc nào không ai biết.

================.

1.Tam khôi - ba học vị cao nhất thời xưa: Trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa lang. Đời Trần lấy tam khôi bắt đầu từ khoa Đinh mùi.

2. Thượng nguyên: ngày lễ vào rằm tháng giêng.

3. Phố tại bến sông. Tương đương với Hàng Đường, Hàng Ngang, Hàng Buồm ngày nay.

4. Các vị đỗ đại khoa, từ thái học sinh (tiến sĩ) trở lên, vua ban cho mỗi người một cái biển bằng gỗ có khắc bốn chữ: “Ân tứ vinh qui” sơn son thiếp vàng. Mỗi người được sắm hai cái lọng; riêng quan trạng được sắm ba lọng. Thường là việc chi về lễ vinh qui của các đại khoa, đều do các quan đầu tỉnh có các vị tân khoa bỏ tiền công ra chi phí.

5. Di phong: Viên giữ việc dán kín tên ở các quyển thi để người chấm không biết được quyển của ai.

6. Soạn tự hiệu: Viên giữ việc biên số hiệu vào các quyển thi.

7. Đằng lục: Người giữ việc viết lại các quyển thi.

8. Thí viện: Gồm các quan đề điệu, giám thí.

9. Khảo viện: Gồm các giám khảo, đồng khảo.

10. Ngự Diên: Toà nhà để vua giảng các kinh sách cho các quan trong triều nghe. Vì khoa thi này sĩ tử kéo về đông, lại về trước thời hạn để tập văn. Nên nhà vua cho mở cửa toà Ngự Diên và đích thân Thái tôn thuyết giảng để đo lường sức học của nho sinh.

11. Tạp biên thực lục: Ghi chép các việc trong ngày, giống như ghi nhật ký ngày nay.

12,13. Xem chú thích ở chương XIX.

14. Kinh nghi: Hỏi những điều còn ngờ trong các kinh.

15. Tương đương với tiến sĩ sau này.

16. Trung Thành vương là con của Nhân Đạo vương.

17. Có nghĩa là được bổ nhiệm ra làm quan.

18. Nguyễn Hiền 13 tuổi, người huyện Thượng Nguyên (Nam Định).

19. Lê Văn Hưu 18 tuổi, người huyện Đông Sơn (Thanh Hóa).

20. Đặng Ma La 14 tuổi, người huyện Mỹ Lương.

21. Lệ xưa khi các tân khoa nhận sau khi nhận áo mũ vua ban, sẽ được lên kiệu đi một vòng quanh phố xá kinh sư để đáp lễ dân chúng kinh kỳ. Và đêm được dự dạ yến vua ban ngay trong vườn thượng uyển.

22. Đăng văn viện: Là cơ quan giữ việc tra xét các hình án. Đến đời Thiệu phong (1343) mới đổi thành Đình uý tự.